BREAKING NEWS

Phát triển Tâm thức

MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT

Chuyển hóa Địa cầu

From our Blog

Trở về với Tự nhiên – một Phản ứng của nền Văn minh

 Trong lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại, con người đã không ngừng tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên để tạo ra đời sống xã hội, điều kiện tồn tại mới ngày càng văn minh, tiến bộ hơn.

Trở về với tự nhiên – một phản ứng của nền văn minh

Lịch sử đã chứng minh những thành tựu hết sức kỳ diệu của loài người. Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tích cực, sự tác động của con người lên tự nhiên cũng làm xuất hiện những mặt trái, gây ra hậu quả khôn lường, đôi khi còn ghê gớm hơn cả những gì mà con người vừa đạt được. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà mỗi khi xã hội phát triển đến một trình độ văn minh nhất định thì lại xuất hiện sự phản đối chính những thành tựu của nền văn minh đó. Xu hướng trở về tự nhiên đã xuất hiện ngay từ thời kỳ cổ đại và có những biểu hiện rất khác nhau trong những điều kiện lịch sử nhất định. Dưới đây, bài viết chỉ đề cập đến một số khuynh hướng điển hình ở phương Đông và phương Tây:

1. Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền văn minh rực rỡ và lâu đời nhất của nhân loại. Chế độ tông pháp chặt chẽ và hà khắc kéo dài suốt các thời kỳ cổ, trung đại với Nho giáo làm nền tảng đã trói buộc con người của đất nước này trong vô vàn mối quan hệ xã hội gò bó, như ngũ luân, tam cương… Con người sinh ra đã không còn thuộc về bản thân họ mà thuộc về gia đình, tông tộc, hoàng thượng…; do vậy, họ phải luôn phấn đấu hết mình để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”… Nho giáo đã tuyệt đối hóa các quan hệ xã hội, bỏ qua cái bản ngã, “cái tôi”, cái cá nhân của con người. Bản ngã tự nhiên – bản ngã thứ nhất của con người đã không được quan tâm, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên bị xem nhẹ. Đó là mặt thiếu hụt hay tính chất không toàn diện của Nho giáo.

Coi tất cả những chuẩn mực đạo đức và trật tự lễ giáo của nhà Chu mà Nho giáo tôn sùng chẳng qua chỉ là công cụ thống trị con người, làm méo mó, xuyên tạc cái bản ngã tự nhiên của con người, Đạo giáo đã phủ nhận những giá trị ấy và coi đó là nguồn gốc của xung đột. Lão Tử cho rằng, trong xã hội không chuộng người giỏi khiến dân không giành giật, không chuộng của quý khiến dân không trộm cướp… Với quan niệm đó, ông chủ trương xóa bỏ mọi ràng buộc, quy phạm xã hội để trả lại cho con người bản tính tự nhiên vốn có, đưa xã hội trở lại thời kỳ mông muội ban đầu khi con người mới sinh ra; bởi, nguồn gốc, cội rễ sâu xa của con người là tự nhiên, là “Đạo”. Đạo huyền vi, sâu kín, thuần phác, tự nhiên. Đạo là bản thể, là nguồn gốc, là quy luật phố biến chi phối sự vận động, biến hóa của con người và vạn vật. “Vô vi nhi vô bất vi” – Đạo thường không làm gì mà không gì không làm. Thuận theo Đạo trời là sống một cách tự nhiên, thuần phác, không giành giật bon chen, vị kỷ, tư lợi, không làm gì trái với bản tính tự nhiên của Đạo.

Phát triển tư tưởng đó của Lão Tử theo tinh thần tuyệt đối hóa bản tính tự nhiên của con người và tách nó ra khỏi mọi quan hệ xã hội, Trang Tử chủ trương sống tự nhiên, thuần phác, gần gũi với thiên nhiên, sống tự do tự tại, không màng danh lợi, chống lại mọi ràng buộc của trật tự, lễ giáo hà khắc. Theo ông, cuộc đời chỉ là một giấc mộng ngắn ngủi. Qua giấc mơ hóa bướm, ông ca ngợi vẻ đẹp của những sinh linh bé nhỏ, đẹp đẽ và tự do, nhởn nhơ bay lượn; đồng thời, bộc lộ khát vọng con người được hòa nhập vào tự nhiên. Trong thiên “Tề vật luận”, Trang Tử cho rằng, vật và ta đều bình đẳng, “trời đất cùng sinh với ta, vạn vật và ta là một”.

Như vậy, có thể nói, Đạo giáo đã thể hiện một tư tưởng chính trị – xã hội và triết lý nhân sinh độc đáo, đối lập với những đường lối tư tưởng đương thời, chống lại mọi trật tự, giáo lý ràng buộc khiến con người đánh mất cái bản ngã tự nhiên của chính mình. Coi trọng sự hòa hợp, thống nhất trong quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa mọi sinh vật trong vũ trụ, Đạo giáo đã đề cao thái độ tôn trọng tự nhiên, mô phỏng trật tự của tự nhiên. Ngày nay, quan niệm đó vẫn còn có ý nghĩa to lớn, khi mà xã hội văn minh đang đứng trước nguy cơ của những vấn đề môi trường toàn cầu. Tuy nhiên, quan niệm của Đạo gia mong muốn con người trở về hòa nhập hoàn toàn vào tự nhiên, đồng nhất con người với tự nhiên còn mang nặng tính cảm tính; nó chỉ phù hợp với một xã hội còn ở trình độ phát triển thấp kém, nhất là về mặt kinh tế. Nếu như con người cứ mãi mãi “ăn lông, ở lỗ”, hái lượm, bắt cá để sống thì liệu họ có còn là con người theo đúng nghĩa của từ này nữa không? Quan niệm này dẫn đến thái độ thụ động của con người trong quan hệ với tự nhiên, nó triệt tiêu năng lực sáng tạo và những sức mạnh to lớn của con người trong việc cải tạo tự nhiên – điều mà theo Ph.Ăngghen, là cái chủ yếu để phân biệt con người với loài vật.

2. Vào nửa cuối thế kỷ XX, ở phương Tây phong trào trở về với tự nhiên đã diễn ra khá rầm rộ. Văn minh phương Tây lấy con người làm trung tâm. Con người được tôn vinh với sức mạnh khổng lồ, cả về thể lực lẫn trí lực, với khả năng và khát vọng khám phá, chinh phục tự nhiên, làm chủ và thống trị tự nhiên. Tinh thần duy lý đề cao sức mạnh của khoa học, của trí tuệ con người; đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người trong quan hệ với tự nhiên đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và sản xuất vật chất. Tinh thần ấy đã góp phần tạo nên diện mạo của nền văn minh phương Tây với những thành tựu rực rỡ.

Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu từ khi máy hơi nước ra đời năm 1764 cùng với sự xuất hiện của tầu hỏa, ô tô, máy ủi… thể hiện sự tiến bộ của văn minh nhân loại. Của cải tăng lên nhanh chóng, tốc độ và quy mô khai thác tự nhiên ngày càng gia tăng, bộ mặt thế giới thay đổi từng ngày. “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”(1). Song, sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp với mục tiêu duy nhất là phát triển kinh tế đã để lại những hậu quả nặng nề. Ngay từ giữa thế kỷ XIX, khi mà những vấn đề môi trường chưa đặt ra bức xúc như hiện nay, C.Mác và Ph.Ănghen đã sớm nhận ra hậu quả này và cảnh báo: “Chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta”(2). Đáng tiếc là những tư tưởng rất có giá trị của các ông về vấn đề này chưa được các thế hệ sau quan tâm đầy đủ. Ngày nay, con người đã phải trả giá đắt cho những gì mà họ đạt được. Những thành tựu của nền văn minh công nghiệp hóa ra lại trở thành những thứ vũ khí có sức mạnh hủy diệt thiên nhiên, tàn phá môi trường – cội nguồn sản sinh ra con người và xã hội loài người.

Việc tiêu thụ quá lãng phí các nguồn tài nguyên ít hoặc không có khả năng tái tạo, nạn phá rừng bừa bãi, cộng với một khối lượng khổng lồ các chất thải công nghiệp và giao thông, các chất thải hạt nhân cùng chất độc hóa học… đã dẫn tới nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sống, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng lỗ thủng tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính, thay đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh… ngày càng ghê gớm và tàn khốc.

Phong trào trở về tự nhiên nổi lên rầm rộ ở nhiều nước phương Tây vào những năm 60 của thế kỷ XX và trở thành lối sống của một bộ phận dân cư. Một số thanh niên tụ tập thành các nhóm và kéo nhau trở về thôn quê hoặc những nơi hoang dã để sống như trong thời kỳ nguyên thủy. Phong trào bảo vệ môi trường cũng lan rộng vào những năm 60, 70 như là cuộc cách mạng về môi trường lần thứ nhất và bùng phát lần thứ hai vào những năm 80 của thế kỷ XX, mạnh mẽ hơn, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Ngày 22 tháng 04 năm 1970, hơn 20 triệu người Mỹ đã tổ chức mít tinh, diễn thuyết, tuyên truyền về việc cần thiết phải bảo vệ môi trường. Các tổ chức “Hòa bình xanh” đã có những hành động quyết liệt để bảo vệ môi trường. Họ nỗ lực không mệt mỏi, thậm chí bất chấp cả sinh mạng để chống lại việc săn cá voi ở Nhật Bản, buộc các công ty ở châu Âu phải hủy bỏ kế hoạch nhập khẩu các sản phẩm biến đổi gen… Những hoạt động tích cực của họ đã bước đầu làm thức tỉnh ý thức bảo vệ môi trường ở nhiều nước trên thế giới. Những hành động đó, theo A.Toffler, là sự phản ứng từ bản năng sinh tồn của con người chống lại nguy cơ đe dọa địa cầu.

Sự phát triển của xã hội không thể tách rời môi trường tự nhiên. Khẩu hiệu “Hãy sống thân thiện với tự nhiên” một lần nữa vang lên như một mệnh lệnh của nền văn minh. Mệnh lệnh đó gần như đã được nhân dân toàn thế giới ủng hộ, thể hiện trước tiên qua các Hội nghị thượng đỉnh về “Môi trường và Phát triển” do Liên hợp quốc tổ chức vào các năm 1972 ở Stốckhôm (Thuỵ Điển), 1992 ở Rio de Janneiro (Brazin), năm 2002 ở Johannesburg (Nam Phi). Từ các Hội nghị quốc tế này, chiến lược phát triển bền vững đã được thông qua và bắt đầu triển khai ở nhiều nước. Tuy nhiên, để thực hiện chiến lược phát triển mới – chiến lược phát triển bền vững, điều quan trọng đầu tiên mà con người phải làm là thay đổi thái độ và cách ứng xử của mình đối với tự nhiên, chuyển từ hành động mang tính bóc lột, tước đoạt tự nhiên sang thiết lập quan hệ thân thiện và đồng tiến hoá với tự nhiên; nghĩa là, cần phải xây dựng đạo đức sinh thái mới, phù hợp với sự phát triển của thế giới ngày nay.

3. Những quy phạm đạo đức, pháp luật truyền thống… nhằm điều chỉnh quan hệ giữa con người với tự nhiên trước đây không đủ để duy trì và bảo đảm cho sự phát triển bền vững của xã hội hiện đại. Nó đòi hỏi phải xây dựng một nền đạo đức mới – đạo đức sinh thái.

Ở phương Tây hiện đại, đạo đức sinh thái do Leopol – một nhà khoa học Mỹ đặt nền móng, phát triển mạnh vào những năm 60 của thế kỷ XX. Đây là một nỗ lực về mặt lý luận nhằm xây dựng những quy tắc, chuẩn mực hướng dẫn con người thiết lập mối quan hệ tương giao mới với tự nhiên; trong đó, không cho phép con người khai thác tự nhiên chỉ vì lợi ích của bản thân mình. Đạo đức sinh thái hiện đại lên án thái độ chính phục theo kiểu “bất chấp” quy luật của con người đối với tự nhiên. Họ phê phán mạnh mẽ các quan niệm duy ý chí truyền thống, tuyệt đối hoá con người của phương Tây trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Đó là các quan niệm: thứ nhất, của chủ nghĩa nhân bản Hy – La cổ đại coi “con người là thước đo của vạn vật”…; thứ hai, của chủ nghĩa duy lý thế kỷ XVII – XVIII coi con người là chủ nhân và chúa tể của giới tự nhiên; thứ ba, của Thiên Chúa giáo coi con người mang bản chất thần thánh của Chúa thiêng liêng và có quyền thống trị giới tự nhiên. Với những quan niệm này, con người rơi vào chủ nghĩa duy lý, duy nhân loại cực đoan và phản sinh thái; tự cho mình là sinh thể trung tâm, thượng đẳng hay đó là chủ nghĩa vị kỷ chủng loại – nguyên nhân sâu xa của vấn đề môi trường đang đè nặng lên nhân loại hôm nay.

Các nhà đạo đức sinh thái chủ trương xây dựng những quy phạm tự thân, tự giác điều chỉnh thái độ của con người hướng tới tôn trọng tự nhiên; xây dựng mối quan hệ hài hòa với tự nhiên, môi trường trên một tiền đề căn bản là quyền sống, quyền tồn tại của tự nhiên. Theo đó, mỗi người đều phải có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ mọi sinh mệnh trong tự nhiên. Luân lý đạo đức mới này được gọi là đạo đức sinh thái “tôn trọng sinh mệnh”. Taylor – nhà đạo đức sinh thái người Mỹ đã đưa ra những luận điểm có tính nguyên tắc, mà ông gọi là quan điểm duy sinh vật, cho luân lý đạo đức của mìnhNhững luận điểm đó là:

* Hệ môi sinh là một mạng lưới bao gồm những thành phần liên kết chặt chẽ với nhau.
* Mọi sinh vật, mọi cộng đồng đều có lợi ích riêng và phải được tôn trọng như nhau.
* Mỗi sinh vật là một trung tâm sống có mục đích riêng, có giá trị nội tại là quyền sống, quyền tồn tại. Giá trị đó phải được xem là một ý niệm triết lý – đạo đức để con người thấy được bổn phận với thiên nhiên.
* Loài người là một thành viên bình đẳng của cộng đồng sinh vật. Cần phủ nhận ưu thế tuyệt đối của loài người theo quan điểm truyền thống để tạo nên một quan điểm mới về bình đẳng loài và bổn phận tôn trọng các loài của con người.

Quan điểm của Taylor có những mặt tích cực và được ủng hộ mạnh mẽ, tuy nhiên vẫn bị phê phán. Những người phê phán cho rằng, quan điểm này đã đưa phạm trù đạo đức, phạm trù của xã hội loài người vào thế giới sinh vật và do vậy, không thể thực hiện được. Hơn nữa, quy luật đấu tranh sinh tồn làm cho quan điểm này khó đứng vững.

Năm 1933, A. Leopol đã phát triển, mở rộng quan điểm duy sinh vật ra toàn bộ cộng đồng sinh vật và cả những điều kiện tồn tại của chúng. Ông đã trình bày một cách có hệ thống về giá trị quan sinh thái “tôn trọng sinh mệnh”. Yêu cầu đặt ra là loài người phải lấy sự hoàn chỉnh, ổn định và vẻ đẹp của hệ thống sinh thái làm nguyên tắc luân lý và tiêu chuẩn của thiện, ác. Ông cũng đã nói tới quyền sống, quyền tồn tại của mọi sinh vật. Toàn bộ những điều kiện môi trường, như đất, nước, không khí, động vật, cỏ cây, con người đều là những nhân tố hợp thành của thiên nhiên, có giá trị sinh thái nhất định và cần phải được tôn trọng. Đây là những luận điểm cơ bản của khuynh hướng duy môi sinh hay duy sinh thái.

Sinh thái học bề sâu do Naess sáng lập với ý đồ tìm kiếm sự hòa đồng giữa con người với tự nhiên bằng trực giác. Trực giác cho phép con người nhận biết bản thể của các sinh vật trong vũ trụ. Về thực chất, không có chủ thể, không có khách thể tồn tại độc lập, không có sự tách biệt giữa người và vật, mọi thực thể đều được cấu tạo bằng quan hệ với nhau. Con người là một hữu thể mà bản chất của nó chỉ được xác định qua quan hệ với các hữu thể khác, là một mắt lưới trong mạng lưới các hữu thể rộng lớn. Thế giới quan cũ đã sai lầm khi gán cho con người một ưu thế tuyệt đối. Sinh thái học bề sâu chủ trương một chủ nghĩa bình đẳng môi sinh và cho rằng, nếu con người không biết đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vạn vật mà cố xác lập một quan hệ chủ tớ với thiên nhiên thì sẽ tự tách biệt đối với chính mình. Sinh thái học bề sâu gặp gỡ tư tưởng truyền thống phương Đông cổ đại ở chỗ: sự tự thực hiện bản ngã hay là thanh hóa bản ngã, đó là sự đồng hóa của tiểu ngã với đại ngã, giữa cá thể với vũ trụ, làm cho bản ngã của mình lan rộng và hòa nhập với đại ngã của toàn vũ trụ. Trong quá trình thanh hóa bản ngã, con người hòa nhập với môi trường, yêu mến, tôn trọng thiên nhiên như chính cha, mẹ, anh, chị em ruột thịt, như chính bản thân mình, đó là nghệ thuật sống của nhà hiền triết.

Nhìn chung, các quan điểm đạo đức sinh thái đều phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy lý truyền thống, khi nó phát triển theo hướng đề cao một cách thái quá trí tuệ, khoa học, kỹ thuật dẫn tới sự thiếu hụt trong đời sống tâm hồn, tình cảm, đạo đức đặc biệt là trong quan hệ giữa con người và tự nhiên. Theo họ, sự thiếu hụt này cần được bù đắp và có thể tìm thấy sự cân bằng trong một số học thuyết phương Đông cổ đại. Có thể khẳng định rằng, luân lý đạo đức sinh thái hiện đại là một sự cảnh tỉnh đối với loài người trước nguy cơ hiện thực về khủng hoảng sinh thái – mặt trái của nền văn minh. Những quan điểm này có một số yếu tố hợp lý (như luận điểm về sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần trong hệ môi sinh…) và phần nào cũng phù hợp với quan điểm mácxít và quan điểm truyền thống phương Đông. Tuy nhiên, đây là một khuynh hướng cực đoan và không tưởng khi mà nó phủ nhận hoàn toàn vai trò của trí tuệ, của sự sáng tạo con người cũng như những thành quả của văn minh nhân loại. Nó có nguy cơ dẫn tới thái độ duy sinh thái thuần tuý và một lần nữa muốn hoà tan con người vào tự nhiên. Điều đó là không cần thiết.

*

Con người cứ mải miết chinh phục tự nhiên, mải miết làm giàu mà không biết rằng họ giàu lên bao nhiêu thì cũng đồng thời nghèo đi bấy nhiêu. Nền văn minh công nghiệp đem lại gì cho con người, nếu đằng trước họ là những “khu rừng già bằng bê tông” và đằng sau là những hoang mạc? Người ta đổ xô ra thành thị để sống trong những tòa nhà chọc trời nhưng lại thiếu không khí để thở, thiếu ánh mặt trời và không gian tự nhiên… Nhân loại đang khao khát được sống gần gũi với thiên nhiên. Trở về với thiên nhiên trở thành một trào lưu thời thượng. Đây thực sự là lối sống ngược lại với nền văn minh công nghiệp hiện đại.

Mong muốn trở về với tự nhiên, sống hòa mình vào thiên nhiên là hiện tượng đặc trưng của nền văn minh xanh. Điều này hoàn toàn không mới mẻ và cũng không nằm ngoài bản chất người vốn có. Bởi lẽ, con người ra đời từ tự nhiên, là bộ phận không thể tách rời của tự nhiên, còn tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người. K. Marx đã khẳng định: “… đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(3). Vậy, trở về với tự nhiên phải chăng là quay lưng lại với nền văn minh rực rỡ, huy hoàng hàng ngàn năm của nhân loại? Đó là quan niệm hết sức cực đoan và phiến diện. Xã hội hoàn toàn không tách rời tự nhiên mà trái lại, xã hội là sự tiếp nối của tự nhiên, là trình độ phát triển cao hơn của giới tự nhiên. Sự phát triển của xã hội loài người là khách quan và tất yếu. Nhưng con người cũng trở nên phiến diện hơn nhiều nếu cứ tiếp tục giữ và hành động theo quan điểm duy kinh tế, lấy tiêu chuẩn phát triển kinh tế nhanh là mục tiêu duy nhất. Cần phải thay thế quan điểm cũ kỹ đó bằng một quan điểm phát triển toàn diện hơn, bao gồm ba mục tiêu cơ bản: 1/ Mục tiêu kinh tế: phát triển nhanh và an toàn; 2/ Mục tiêu xã hội: đảm bảo công bằng xã hội, lấy chỉ số phát triển con người làm thước đo cao nhất; 3/ Mục tiêu sinh thái: khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống.

Đây chính là quan điểm phát triển bền vững đã được nêu trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) năm 1987. Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ.

Quan điểm phát triển bền vững không đối lập với quan điểm duy nhân loại đề cao năng lực sáng tạo, cải tạo tự nhiên của con người; trái lại, càng khẳng định vai trò chủ thể của con người trong hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo tự nhiên một cách tích cực, mang tính tự giác ở trình độ cao hơn.

Quan điểm phát triển bền vững cũng không đối lập với quan điểm trở về tự nhiên. Phát triển bền vững đưa con người trở về với thiên nhiên, nhưng không phải là cái thiên nhiên “mông muội tối tăm”, nguyên thủy, mà là một thiên nhiên được cải tạo, được làm giàu và phát triển trên một trình độ mới – thiên nhiên mang tính người, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của con người, không đối lập với thiên nhiên hoang dã và chỉ có thể có được bằng sự tác động, cải tạo hợp quy luật của con người. Như vậy, quan điểm phát triển bền vững luôn có một cơ sở vững chắc, mà như K. Marx đã chỉ ra là, con người có thể nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và sử dụng chúng một cách có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn của mình.

Trên thực tế, sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên là mối quan hệ hai chiều, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn. Tự nhiên tác động tới mọi mặt hoạt động của con người và xã hội, song sự tác động ấy hoàn toàn tự phát. Còn mọi sự tác động của con người tới tự nhiên đều “tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”. Thế nhưng, con người đã quá say sưa với những khiếm khuyết của mình trong nhận thức, trong hành vi ứng xử với tự nhiên và chỉ đến khi phải trả giá đắt cho những sai lầm của mình, loài người mới bừng tỉnh trước uy lực của tự nhiên và hiểu rằng, chỉ có tôn trọng tự nhiên thì mới làm chủ được tự nhiên. Phải chăng, đây chính là nguyên tắc căn bản để xây dựng một nền đạo đức sinh thái mới làm kim chỉ nam cho hành động của loài người.

————————————

Chú thích:

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.603.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.654.
(3) C.Mác và PhĂng ghen. Sđd., t.42, tr.135.

Bàn về Tâm thức bậc cao (Higher Consciousness)

 

Thuật ngữ 'Tâm thức bậc cao' thường được dùng bởi những người theo tâm linh để mô tả những trạng thái tâm thức quan trọng nhưng khó-đạt được.

Các nhà sư Ấn Độ giáo và các nhà tu hành Phật giáo đều nói đến việc đạt được những khoảnh khắc 'ý thức cao hơn' - thông qua thiền định hoặc tụng kinh, ăn chay hoặc hành hương.


Trớ trêu thay, những bậc thầy tâm linh thường nói về trạng thái tâm thức của họ theo kiểu "cổ lỗ sĩ" đến nhàm chán. Mọi thứ họ nói nghe mơ hồ đến phát điên, từng câu từng chữ yểu điệu và buồn chán làm sao, nếu nói thật ra thì còn gây khó chịu nữa. Những ông thiền sư này đang muốn nói cái quái gì vậy nhỉ?

Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với những người với bản chất không ưa những thứ gì liên quan đến tâm linh huyền ảo khó diễn tả bằng lời. Nhưng khái niệm về "Tâm thức bậc cao" thật sự rất thú vị, nó vốn chẳng liên quan gì đến lĩnh vực tâm linh cả, khái niệm này chỉ có thể được định nghĩa theo cách gọi là tạm đủ bằng những thuật ngữ chuẩn xác đến nghiêm ngặt và có phần hơi "cổ phong".

Đây là cách chúng ta thấy: là phàm nhân, chúng ta dành phần lớn cuộc đời mình hoạt động ở những trạng thái ý thức cấp thấp, ở đó mối bận tâm chủ yếu của chúng ta là chính bản thân mình, sự tồn tại của ta, thành công của ta.


Cuộc sống thường nhật bổ trợ cho những cái nhìn thực tiễn rõ ràng, phi nội tâm, là những dấu hiệu cho cái mà ta gọi là nhận thức "thấp hơn" ( ‘lower’ consciousness). Các nhà thần kinh học nói về phần 'thấp hơn' của bộ não mà họ gọi là não bò sát và cho chúng ta biết rằng dưới sự ảnh hưởng của nó, chúng ta sẽ phản công lại khi mình bị đánh, đổ lỗi cho người khác, chấm dứt bất kỳ câu hỏi vu vơ nào không thực sự liên quan, và dính chặt với hình tượng đẹp đẽ về con người ta và nơi ta đang đi tới.

Tuy nhiên, vào những khoảnh khắc hiếm hoi, khi không có những đòi hỏi hay mối đe doạ nào đến chúng ta, có lẽ vào đêm khuya hoặc sáng sớm, khi cơ thể và sự đam mê của chúng ta thoải mái và yên lặng, chúng ta có đặc quyền để có thể tiếp cận tâm thức cao hơn - những nhà thần kinh học gọi đó là Tân vỏ não (neocortex) của chúng ta, chỗ ở của trí tưởng tượng, sự thấu cảm và phán đoán vô tư. Ta nới lỏng bản ngã và thăng hoa lên một phạm trù phổ quát và ít thành kiến hơn, gạt đi một chút những lý lẽ bồn chồn và lòng kiêu hãnh mong manh dễ vỡ.

Trong những trạng thái đó, tâm trí vượt thoát khỏi những ham muốn và quyền lợi bản thân của nó. Chúng ta bắt đầu nghĩ về người khác theo cách thức giàu tính tưởng tượng hơn. Thay vì chỉ trích và công kích họ, ta tưởng tượng rằng hành vi của họ bị điều khiển bởi những áp lực từ tâm trí nguyên thuỷ của họ, mà nhìn chung họ không hiểu điều đó để nói với ta. Giờ đây chúng ta nhận ra sự nóng nảy hay tàn nhẫn của họ là triệu chứng của tổn thương chứ không phải là 'độc ác'.


Để có được khả năng này nhân loại đã mất hàng triệu năm tiến hóa - khả năng giải thích lí do đằng sau hành vi của cá thể khác bằng nguyên nhân gốc rễ là vì đau khổ thay vì chỉ nhìn nhận khía cạnh việc đó ảnh hưởng như thế nào đến chủ thể. Chúng ta nhận ra phản ứng thích hợp của ta đối với nhân loại không phải là sợ hãi, hoài nghi hay sự hung hãn, mà là tình yêu.

Và thế giới, vào lúc ấy, bộc lộ khác hẳn: một nơi tràn đầy những khổ đau và nỗ lực lầm lạc, một nơi tràn đầy những con người phấn đấu để được công nhận và tranh đấu với người khác, và còn là một nơi của sự dịu dàng và khao khát, của vẻ đẹp và tính dễ bị tổn thương. Phản ứng phù hợp trong tình cảnh này là sự cảm thông và lòng tốt phổ quát.

Trong những khoảnh khắc nhận thức cao hiếm có ấy, cái chết không còn là một gánh nặng, sở thích có thể gạt qua một bên bạn có thể hòa hợp với những sự vật trong chốc lát: cỏ cây, gió trời, sóng xô vào bờ. Từ góc nhìn cao hơn ấy, địa vị không còn quan trọng, của cải không có ý nghĩa, những lời than trách cũng không còn cấp bách, lòng ta thanh thản. Nếu có người nào đó bắt gặp bạn lúc này, họ sẽ kinh ngạc trước sự biến hóa ấy.

Những trạng thái nhận thức cao này không tồn tại lâu. Ta không nên khao khát biến nó trở nên vĩnh cửu - vì nó không chịu ngồi chung một chỗ với rất nhiều những nhiệm vụ thực tiễn quan trọng khác mà ta cần phải thực hiện. Ta không nhất thiết lúc nào cũng đạt đến những trạng thái đó. Nhưng ta cần tận dụng chúng một cách tối đa. Ta phải thu hoạch và giữ gìn chúng để có thể tìm đến những trạng thái ấy khi ta cần chúng nhất.

Ý thức cao hơn là một chiến thắng lớn trước tâm trí nguyên thuỷ vốn không thể hình dung được bất kỳ khả năng nào ở trên.

Tại sao mọi người tin vào Thuyết âm mưu?

 


Có vẻ như mỗi gia đình đều có một ông chú – liên tục kể chuyện về các thuyết về âm mưu trong bữa ăn tối ngày lễ.

“Cả nhà biết không? Thật ra vụ tấn công 11/9 là do chính phủ điều động”
“Còn nữa, mấy video lên Mặt trăng đều được quay ở Hollywood thôi”
“Oswald đã không hành động một mình trong vụ ám sát Kennedy”
“Này cháu, đừng nói về nóng lên toàn cầu nữa. Giáng sinh này vẫn rét như hồi chú 5 tuổi. Cháu mong chú tin cả thế giới đang ấm lên hả??”

Chúng ta nên để ông chú sang bên và thử tìm hiểu xem mấy thuyết âm mưu của chú đến từ đâu. Tại sao một số người lại dễ tin vào thuyết âm mưu? Đây chính là câu hỏi đặt ra bởi nhà tâm lý học người Anh Karen Douglas và các đồng nghiệp của cô trong một bài báo gần đây trên tạp chí Current Directions in Psychological Science.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng lý do để tin vào thuyết âm mưu có thể được chia thành ba loại:
• Mong muốn hiểu biết và cảm giác chắc chắn
• Mong muốn kiểm soát và cảm giác an toàn
• Mong muốn duy trì hình ảnh bản thân tích cực

Chúng ta hãy nhìn lại từng động cơ.

Mong muốn hiểu biết và cảm giác chắc chắn.

Tìm kiếm giải thích cho các sự kiện là ham muốn tự nhiên của con người. Chúng ta luôn thắc mắc vì sao một sự việc lại xảy ra như thế? Tại sao trời phải mưa vào đúng ngày tôi muốn ra ngoài? Tại sao cô ấy lại hờ hững với tôi ? Tại sao bạn không hiểu những gì tôi đang cố gắng nói với bạn?

Và không chỉ đặt câu hỏi, chúng ta cũng nhanh chóng tìm ra câu trả lời. Không nhất thiết là câu trả lời đúng, mà thông thường nó sẽ giúp ta an tâm hoặc thấy phù hợp với quan điểm của mình. Trời đổ mưa vì tôi luôn là một kẻ không may. Cô ấy lạnh lùng với tôi vì cô ấy không thể chịu nổi khi mọi việc không theo cách mà cô muốn. Bạn không hiểu những gì tôi nói vì bạn không lắng nghe.

Trong mỗi chúng ta đều có những niềm tin sai, nghĩa là có những điều ta tin là đúng nhưng trên thực tế thì không. Ví dụ, nếu bạn tin rằng Sydney là thủ đô của Úc, bạn là nạn nhân của một niềm tin sai. Nhưng một khi thực tế cho bạn thấy Canberra là thủ đô của Úc, bạn sẽ dễ dàng thay đổi ý kiến của mình. Rốt cuộc, bạn chỉ đơn giản là hiểu lầm và bạn cũng không có nhiều cảm xúc với nó lắm .

Lý thuyết âm mưu cũng là niềm tin sai, theo định nghĩa. Nhưng những người tin vào nó đặc biệt chú trọng việc duy trì niềm tin này. Thứ nhất, họ nỗ lực tìm hiểu về thuyết âm mưu tiềm ẩn sau sự kiện, bằng cách đọc sách, tìm kiếm trên các website hoặc xem các chương trình cổ súy cho niềm tin đó. Cảm giác không chắc chắn là một trạng thái rất khó chịu. Các thuyết âm mưu tạo nên ảo tưởng “hiểu biết và chắc chắn” để xoa dịu trạng thái này.

Mong muốn kiểm soát và cảm giác an toàn.

Mọi người cần cảm giác họ đang kiểm soát cuộc sống của họ. Ví dụ, nhiều người cảm thấy an toàn hơn khi họ tự lái xe chứ không phải là hành khách. Tất nhiên, ngay cả những người lái xe giỏi nhất cũng có thể bị tai nạn vì những lý do vượt ra ngoài sự kiểm soát của họ. Tương tự như vậy, các lý thuyết âm mưu có thể cung cấp cho các tín đồ của họ cảm giác kiểm soát và an toàn. Điều này đặc biệt đúng khi một phần cuộc sống bị đe dọa. Ví dụ, nếu nhiệt độ toàn cầu đang tăng lên thảm khốc do hoạt động của con người, thì tôi sẽ phải thay đổi lối sống thoải mái của tôi. Thật là đau đớn. Nhưng nếu các chuyên gia và chính trị gia đảm bảo với tôi rằng sự nóng lên toàn cầu chỉ là một trò lừa bịp, thì tôi có thể duy trì được cách sống hiện tại của mình. Kiểu lý luận dựa trên động cơ này là một thành phần quan trọng để duy trì niềm tin về thuyết âm mưu.

Mong muốn duy trì một hình ảnh tích cực.

Nghiên cứu cho thấy những người cảm thấy bị “đứng bên lề” xã hội có xu hướng tin hơn vào các thuyết âm mưu. Tất cả chúng ta đều muốn duy trì hình ảnh tích cực về bản thân, thường xuất phát từ những vai trò của chúng ta trong cuộc sống – công việc, các mối quan hệ với gia đình và bạn bè. Khi tạo ra sự khác biệt tích cực trong cuộc sống của những người khác – như cha mẹ, người yêu/bạn đời, bạn bè, giáo viên hay người hướng dẫn- chúng ta thấy cuộc sống của mình đáng giá, và thấy bản thân tốt hơn. Nếu công việc của bạn nhàm chám và ít tiếp xúc xã hội, hay bạn liên tục gặp những con người ưa tin đồn, bạn có xu hướng tin hơn vào những thuyết âm mưu. Bạn dành nhiều thời gian hơn trên internet để củng cố niềm tin của mình, trò chuyện với những người có chung niềm tin ấy. Thuyết âm mưu cho bạn cảm giác sở hữu một kiến thức đặc biệt. Hầu hết mọi người tin vào sự nóng lên toàn cầu và sự an toàn của vac-xin sẽ không chạy theo thuyết âm mưu vì họ hiểu khoa học. Họ tin tưởng các chuyên gia. Bạn bắt đầu đưa ra các bằng chứng chống lại sự nóng lên toàn cầu, dù rất khó để đưa ra một lý lẽ hoàn toàn hợp lý. Từ cách mà bạn nói, có vẻ bạn am hiểu về chủ đề đó, bạn có một mớ giả thuyết quá phức tạp khiến người nghe bắt đầu thấy phân vân về điều họ tin tưởng.

Tựu trung lại, chúng ta hiểu về những gì thúc đẩy con người tin vào các thuyết âm mưu. Họ làm như vậy vì ba nhu cầu cơ bản: Tìm hiểu thế giới xung quanh; tạo cảm giác an toàn và kiểm soát; duy trì hình ảnh tích cực về bản thân. Nhưng niềm tin vào thuyết âm mưu có thực sự giúp mọi người thỏa mãn được những nhu cầu này?

Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng khi sinh viên đại học tiếp xúc với các thuyết âm mưu, cảm giác mất an toàn của họ ngày càng tăng. Điều này cho thấy thuyết âm mưu không hẳn giúp chúng ta cảm thấy an toàn. Con người hay đa nghi và thiên hướng tiêu cực như một bản năng tự vệ để duy tri sinh tồn. Douglas và các đồng nghiệp cũng chỉ ra rằng, hầu hết sinh viên không tin ngay vào các loại thuyết âm mưu. Nếu cần thiết, họ sẽ lập luận, kiểm tra lại chính những nguồn tin đó.

Bất kể bạn tiếp xúc với dạng thông tin như thế nào, hãy luôn giữ đầu óc tỉnh táo trước những biện luận vu vơ, những nguồn tin không xác thực. Bạn có thể phản đối thuyết âm mưu kiểu này. Nhưng hầu hết những cuộc tranh luận như vậy không đi đến đâu. Người lan truyền tin không quan tâm lắm đến việc tranh cãi với bạn. Họ đang duy trì cảm giác an toàn và tự hào về bản thân mà thôi.

 

Bản quyền nguyên tác: Ph.D David Ludden

Tại sao tiền bạc không "đủ" làm bạn hạnh phúc hơn?

 


Ai cũng đều luôn tìm kiếm hạnh phúc, bằng cách này hay cách khác, đích đến là hạnh phúc vẫn không bao giờ thay đổi. Những rất nhiều người quan niệm nhầm rằng: Hạnh phúc đi liền với sự giàu có!

"Giá như chúng ta ngừng cố gắng để hạnh phúc, chúng ta có thể đã có một khoảng thời gian hạnh phúc."

Đó là câu nói của tiểu thuyết gia và người đoạt giải Pulitzer Edith Wharton (1862-1937). Nó thực sự chính xác. Bạn có thể nghĩ rằng mình không hạnh phúc trong khi thực ra hạnh phúc đang ở bên bạn. Tất cả chúng ta đều luôn tìm kiếm hạnh phúc, bằng cách này hay cách khác, đích đến là hạnh phúc vẫn không bao giờ thay đổi. Tuy nhiên trên thực tế, có rất nhiều quan niệm sai lầm về hạnh phúc.

Tại sao tiền bạc không đủ làm bạn hạnh phúc hơn? - Ảnh 1.

Định nghĩa về hạnh phúc

Có vô số những định nghĩa khác nhau về hạnh phúc, điều này phụ thuộc hoàn toàn vào mỗi cá nhân. Tuy nhiên, xét theo phương diện khoa học, hầu hết các nghiên cứu về chỉ số hạnh phúc của mỗi người đều chỉ ra rằng các yếu tố như sức khỏe, sự giàu có, tình trạng hôn nhân và ngoại hình,… đóng một vai trò rất ít quan trọng trong việc tạo nên hạnh phúc. Điều mà chúng ta vốn luôn nghĩ là sẽ tạo nên phần lớn thành công và hạnh phúc, khiến ta mải mê theo đuổi- hóa ra lại không quan trọng nhiều như ta nghĩ trong việc tạo nên cảm giác hạnh phúc.

Ví dụ, trong một nghiên cứu, các nhà khoa học đã khảo sát vài trăm công nhân tại 10 địa điểm việc làm khác nhau, hỏi họ cảm thấy hạnh phúc như thế nào trong khoảng thời gian 25 phút trong cả ngày làm việc. Bất ngờ là, những người có thu nhập cao hơn thực ra lại không hề hạnh phúc hơn những người thu nhập thấp hơn, thậm chí họ còn phải trải qua nhiều áp lực, căng thẳng và cảm xúc tiêu cực hơn. Những phát hiện như thế này đã liên tục được lặp lại trong hàng loạt nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc.

Nghiên cứu liên tục chỉ ra rằng những người lạc quan, vui vẻ sẽ khỏe mạnh hơn, sống lâu hơn, thành công hơn và có nhiều mối quan hệ viên mãn hơn. Vì vậy, tất cả chúng ta có thể và nên học cách hạnh phúc hơn.

Tiền có đồng nghĩa với hạnh phúc?

Sự bằng lòng là một khái niệm linh hoạt, bằng lòng sẽ tùy thuộc vào việc ai đó biết thỏa mãn với những gì mình đang có. Phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc có được của cải không làm tăng hạnh phúc. Một người nào đó sống ở một quốc gia có GDP bình quân đầu người cao không phải sẽ hạnh phúc hơn trung bình so với những người tương đương ở một quốc gia nghèo hơn.

Khi bạn chỉ theo đuổi vật chất để kiếm tìm hạnh phúc, thời gian bạn dành cho việc nuôi dưỡng các mối quan hệ cá nhân, nuôi dưỡng tình cảm và các điều tích cực khác bị giảm xuống. Không bằng lòng với những gì mình đang có, bạn rơi vào cái bẫy của sự theo đuổi vật chất mà không biết điểm dừng.

Những người như vậy sẽ chỉ có cảm giác hạnh phúc tạm thời. Sự không bằng lòng và chỉ theo đuổi vật chất sẽ khiến bạn luôn cảm thấy thiếu thốn, không bao giờ là đủ, bạn sẽ luôn căng thẳng mệt mỏi để đạt tới mức của cải bạn cho là “đủ” mà quên đi những gì hiện có và các giá trị tốt đẹp khác trong cuộc sống, giống như câu nói của Mahatma Gandhi: "Trái đất cung cấp đủ để đáp ứng mọi nhu cầu của con người, nhưng không phải mọi lòng tham của con người."

4 cách để trở nên hạnh phúc hơn

1. Hòa đồng hơn

Nhìn chung, những người hạnh phúc dành ít thời gian ở một mình và nhiều thời gian để giao tiếp với người khác. Họ cũng có xu hướng hướng ngoại và dễ kết giao hơn so với những người không hạnh phúc. Nhiều nghiên cứu chỉ ra những người hạnh phúc có mối quan hệ xã hội chặt chẽ bao gồm bạn bè và gia đình. Theo Aristotle, con người là 'động vật xã hội' tìm kiếm sự đồng hành của người khác để đóng góp vào hạnh phúc của mình. Đây là một nhu cầu thiết yếu đối với sức khỏe. Những người nuôi dưỡng các mối quan hệ thân thiết gắn bó thường có khả năng đối mặt tốt hơn khi gặp những căng thẳng lớn trong cuộc sống như mất mát, mất việc hoặc bệnh tật.

Hơn nữa, trong các cuộc khảo sát, 'tình yêu' thường được các cá nhân nhắc đến như một yếu tố còn thiếu mang lại hạnh phúc cho họ. Như vậy, các mối quan hệ chất lượng tạo ra những tình cảm đáng quý mới làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn và là điều cần thiết để hạnh phúc.

2. Tìm các hoạt động khiến bạn tập trung

Có nhiều hoạt động khác nhau, tùy thuộc vào những gì mỗi người giỏi hoặc yêu thích. Đó có thể là một hoạt động thể chất, một buổi sáng tạo, một buổi giải quyết vấn đề phức tạp hoặc thậm chí đàm phán một thỏa thuận kinh doanh. Nó cũng có thể là tập thể dục hoặc sở thích khiến chúng ta đạt được sự tập trung sâu sắc và cảm nhận được dòng chảy của thời gian, thấy ý nghĩa của cuộc sống, từ đó sống tích cực hơn.

Do đó, để nâng cao cơ hội cảm thấy hạnh phúc thường xuyên hơn, hãy cố gắng thử nghiệm nhiều sở thích và hoạt động đa dạng và phong phú cho đến khi bạn tìm thấy những sở thích và hoạt động tốt nhất khiến bạn thư giãn, tích cực lên mỗi ngày.

3. Sống có mục đích và có lòng vị tha

Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao các tình nguyện viên tham gia các hoạt động tình nguyện lại cảm thấy hài lòng như vậy? Đó là bởi vì họ làm việc hướng tới mục đích lớn lao, điều này tạo ra hạnh phúc và ý nghĩa cho cuộc sống của họ. Chúng ta hạnh phúc khi cảm thấy rằng chúng ta quan trọng và những gì chúng ta làm quan trọng.

Các phát hiện tâm lý chỉ ra rằng một khi các mục tiêu cá nhân phù hợp với việc tạo ra 'ý nghĩa' cho mình và cho cả người khác, chúng ta sẽ trở nên hạnh phúc hơn RẤT NHIỀU. Những hành động tốt, sống vị tha sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn, giúp ta xây dựng và củng cố các mối quan hệ. Khi các mối quan hệ xung quanh ta đều tích cực và ý nghĩa, bạn sẽ cảm thấy cuộc đời có thật nhiều điều tốt đẹp và bạn sẽ hạnh phúc.

4. Hướng đến sự cân bằng

Điều quan trọng là phải nhìn cuộc sống từ góc độ "toàn diện" để nâng cao và duy trì mức độ hạnh phúc. Một cách để đạt được cái nhìn tổng thể này là chia đều mối bận tâm cho từng lĩnh vực trong cuộc sống. Tập trung quá mức vào bất kỳ lĩnh vực đơn lẻ nào trong khi phớt lờ vấn đề khác sẽ khiến bạn không hạnh phúc.

Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cân bằng. Chẳng hạn, khi đang tập trung cho giai đoạn công việc, bạn bỏ bê sức khỏe tinh thần, điều này sẽ khiến bạn bực tức, nóng nảy, mệt mỏi và khiến cuộc sống của bạn không còn hoàn hảo.

Như vậy, tiền bạc, của cải không phải là mấu chốt dẫn đến hạnh phúc. Sự bằng lòng đối với hiện tại, trân trọng những điều mình đang có và hướng tới sự cân bằng chính là chìa khóa cho hạnh phúc dài lâu!

  Theo Medium

Cách tư duy hiệu quả: 6 giai đoạn của tư duy phản biện

 Một mô hình tư duy phản biện được phát triển bởi một nhà tâm lý học có thể giúp dạy những kỹ năng tinh thần cần thiết cho thời gian của chúng ta.

Lý thuyết các giai đoạn phát triển tư duy phản biện được các nhà tâm lý học Linda Elder và Richard Paul nghĩ ra, có thể giúp chúng ta đánh giá sự tinh tế trong cách tiếp cận tinh thần hiện tại của chúng ta và đưa ra lộ trình suy nghĩ của người khác.

Các nhà nghiên cứu đã xác định sáu cấp độ của những nhà tư duy phản biện, từ những người có chiều sâu và nỗ lực thấp hơn đến những bậc thầy về tư duy tiên tiến, những người luôn đi trước.

Như các nhà khoa học viết, tiến lên trên kim tự tháp tư duy này “phụ thuộc vào một mức độ cam kết cần thiết từ phía một cá nhân để phát triển như một nhà tư duy phản biện.”

Sử dụng trí óc của bạn hiệu quả hơn không phải là tự động và không giống như việc chúng diễn ra trong tiềm thức. Nói cách khác – bạn phải làm việc và giữ vững điều đó, nếu không nó sẽ mất tác dụng.

Giai đoạn 01: Nhà tư duy không có tính phản ánh – Unreflective Thinker

Đây là những người không phản ánh về tư duy và ảnh hưởng của nó đến cuộc sống của họ. Như vậy, họ hình thành ý kiến ​​và đưa ra quyết định dựa trên định kiến ​​và quan niệm sai lầm trong khi suy nghĩ hay tư duy của họ không được cải thiện.

Những người tư duy thiếu tính phản ánh thiếu những kỹ năng quan trọng điều sẽ cho phép họ phân tích quá trình suy nghĩ của họ. Họ cũng không áp dụng các tiêu chuẩn như chính xác, phù hợp và logic theo một cách nhất quán.

Có bao nhiêu người như vậy ngoài kia? Bạn có thể dự đoán dựa trên các ý kiến trên ​​truyền thông mạng xã hội. Hay như Elder và Paul viết, “Nó có thể rất phù hợp đối với học sinh, sinh viên, đa số họ vẫn chủ yếu là những nhà tư duy thiếu tính phản ánh”.

Giai đoạn 02: Nhà tư duy đầy thách thức – The Challenged Thinker

Nhà tư duy ở cấp độ kế tiếp này có nhận thức về tầm quan trọng của tư duy đối với sự tồn tại của họ và biết rằng sự thiếu sót trong tư duy có thể mang lại những vấn đề lớn.

Như các nhà tâm lý học giải thích, để giải quyết một vấn đề, trước tiên bạn phải thừa nhận bạn có một vấn đề.

Những người ở giai đoạn trí tuệ này bắt đầu hiểu rằng “tư duy chất lượng cao đòi hỏi phải tư duy phản xạ có chủ ý về tư duy” và có thể thừa nhận rằng các quá trình về tinh thần của chính họ có thể có nhiều sai sót. Họ có thể không thể xác định tất cả các sai sót.

Một nhà tư duy đầy thách thức có thể có cảm giác rằng tư duy vững chắc liên quan đến việc điều hướng các giả định, suy luận và quan điểm, nhưng chỉ ở mức độ ban đầu.

Họ cũng có thể phát hiện ra một số trường hợp tự lừa dối bản thân. Các nhà nghiên cứu giải thích, khó khăn thực sự đối với các nhà tư duy thuộc loại này là không “tin rằng suy nghĩ của họ tốt hơn thực tế khiến rất khó để nhận ra các vấn đề vốn có trong các tư duy nghèo nàn”.

Giai đoạn 03: Nhà tư duy mới – The Beginning Thinker

Những người tư duy ở cấp độ này có thể vượt xa sự khiêm tốn của trí tuệ non trẻ và chủ động tìm cách kiểm soát suy nghĩ của họ trên các lĩnh vực của cuộc sống.

Họ biết rằng suy nghĩ của chính họ có thể có những điểm mù và các vấn đề khác và thực hiện các bước để giải quyết những vấn đề đó, nhưng trong một khả năng hạn chế.

Những nhà tư duy mới bắt đầu đặt nhiều giá trị hơn trong lý trí, trở nên tự nhận thức trong suy nghĩ của họ. Họ cũng có thể bắt đầu xem xét các khái niệm và thành kiến ​​trong ý tưởng của họ.

Ngoài ra, những nhà tư duy như vậy phát triển các tiêu chuẩn nội bộ cao hơn về sự rõ ràng, chính xác và logic, nhận ra rằng bản ngã của họ đóng vai trò chính trong các quyết định của họ.

Một khía cạnh lớn khác để phân biệt những nhà tư duy đầy mạnh mẽ này là – một số khả năng đưa ra lời chỉ trích hay phê phán về phương pháp tiếp cận mang tính tinh thần của họ, mặc dù họ vẫn còn việc phải làm và có thể thiếu các giải pháp đủ rõ ràng cho các vấn đề họ phát hiện.

Giai đoạn 04: Nhà tư duy thực hành – The Practicing Thinker

Nhà tư duy có nhiều kinh nghiệm hơn này không chỉ đánh giá cao sự thiếu sót của chính họ, mà còn có kỹ năng để đối phó với chung. Một người tư duy ở cấp độ này sẽ thực hành thói quen suy nghĩ tốt hơn và sẽ phân tích các quá trình tinh thần của họ một cách thường xuyên.

Mặc dù họ có thể thể hiện điểm mạnh và điểm yếu của tâm trí mình, nhưng theo cách tiêu cực, những nhà tư duy thực hành có thể vẫn chưa có một cách có hệ thống để hiểu sâu hơn về suy nghĩ của họ và có thể trở thành ‘con mồi’ cho lý luận tự nhiên và tự lừa dối.

Làm thế nào để bạn có thể đến được giai đoạn này? Một đặc điểm quan trọng để đạt được, theo các nhà tâm lý học, là “sự kiên trì đầy trí tuệ“.

Giai đoạn 05: Nhà tư duy tiên tiến – The Advanced Thinker

‘Người ta thường không đến được giai đoạn này cho đến khi học đại học và hơn thế nữa’, theo ước tính của các nhà khoa học. Nhà tư tưởng cấp cao hơn này sẽ có những thói quen mạnh mẽ cho phép họ phân tích suy nghĩ của họ với cái nhìn sâu sắc về các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

Họ sẽ có đầu óc công bằng và có thể phát hiện ra các khía cạnh định kiến ​​theo quan điểm của người khác và sự hiểu biết của chính họ.

Mặc dù họ có khả năng xử lý tốt vai trò của cái tôi trong luồng ý tưởng, nhưng những người suy nghĩ như vậy vẫn có thể không nắm bắt được tất cả những ảnh hưởng ảnh hưởng đến tâm lý của họ.

Nhà tư tưởng tiên tiến thoải mái với việc tự phê bình và làm như vậy một cách có hệ thống, tìm cách cải thiện. Trong số những đặc điểm chính cần có ở cấp độ này là “hiểu biết trí tuệ” để phát triển thói quen suy nghĩ mới.

Chính trực trí tuệ” để “nhận ra những lĩnh vực không nhất quán và mâu thuẫn trong cuộc sống của một người, “đồng cảm trí tuệ “để đặt mình vào vị trí của người khác để thực sự hiểu họ và “lòng can đảm trí tuệ” để đối đầu với những ý tưởng và niềm tin mà họ không nhất thiết phải tin tưởng và có những cảm xúc tiêu cực đối chúng.

Giai đoạn 06: Nhà tư duy bậc thầy – The Master Thinker

Đây là những người siêu tư duy, người hoàn toàn kiểm soát cách họ xử lý thông tin và đưa ra quyết định. Những người như vậy liên tục tìm cách cải thiện kỹ năng tư duy của họ, và thông qua kinh nghiệm “thường xuyên nâng cao suy nghĩ của họ lên mức độ nhận thức có ý thức”.

Một nhà tư duy bậc thầy đạt được những hiểu biết sâu sắc về các cấp độ tinh thần sâu sắc, cam kết mạnh mẽ để công bằng và giành quyền kiểm soát đối với chủ nghĩa tự chủ của chính họ.

Một nhà tư tưởng cấp cao như vậy cũng thể hiện kiến thức và hiểu biết thực tế vượt trội, luôn kiểm tra lại các giả định của họ về các điểm yếu, logic và sự sai lệch.

Và, tất nhiên, một nhà tư tưởng bậc thầy sẽ không buồn khi phải đối mặt với những rắc rối và dành một lượng thời gian đáng kể để phân tích các phản ứng của chính họ.

Vậy làm thế nào để bạn trở thành một nhà tư duy bậc thầy? Các nhà tâm lý học nghĩ rằng hầu hết các sinh viên sẽ không bao giờ đạt được điều đó.

Nhưng nếu bạn thực hành những đặc điểm trí tuệ tốt nhất có thể đưa bạn đến vị trí đó khi “những người có ý thức tốt luôn tìm kiếm những nhà tư duy bậc thầy, vì họ nhận ra và coi trọng khả năng của những nhà tư duy bậc thầy trong việc tư duy thông qua những vấn đề phức tạp bằng sự phán xét và thấu hiểu.”

NÓI VỀ DẠY TRẺ

 

Thơ ghi nhớ:

                                    Là ai, món nợ thế nào

                                    Cần gì, không được làm sao cõi trần

                                   Quyền gì, phải học thành Nhân

                                   Tự chủ Sáng tạo Tiến dần lên Thiên…

                                             1-Nó là ai: 2 thể.

-Nó là con Trời, có gốc quê ở chòm sao Bắc Đẩu, linh hồn nó đầu thai xuống trần gian, qua nhiều đời nhiều kiếp để học hỏi, trần gian chỉ là trường học mà thôi, rồi nó phải trở về. Muốn trở về nó phải hoàn tất quá trình tiến hóa ở cuộc đời này.

-Thân xác bản thể của nó chỉ là mượn giả tạm để học hỏi ở kiếp này mà thôi. Nhưng phải chăm lo và kính trọng Thể xác, bản mệnh, vì tất cả cũng là Thượng đế tạo ra như thế, muốn thế.

                                            2-Nó nợ gì: 5 nợ.

-Nợ Trời: Vì Thượng đế sinh ra Linh hồn nó, cho nó một trí tuệ, biết suy nghĩ và tồn tại qua hàng tỷ năm, đã có tỷ tuổi. Trả nợ Thượng đế bằng cách Tu luyện để về quê xưa và sống như Thượng đế với con người, muôn vật: Đó là yêu thương tuyệt đối, không phân ranh giới và bao trùm tất cả, là tất cả. Tuyệt đối vị tha, nhân ái, độ lượng và giúp đỡ mọi người vô điều kiện.

-Nợ Bố mẹ trần gian và tiên tổ: Bố mẹ trần thay mặt Thượng đế sinh ra nó tại trần gian này, thương nó như Thượng đế thương chúng sinh. Tiên tổ tạo ra gốc nòi dòng giống. Nên phải kính trọng, tôn thờ bố mẹ trần và tổ tiên.

-Nợ Đất mẹ: Đất đai nuôi sống con người, uống nước là máu, ăn đồ ẩm thực là thịt của Mẹ đất. Phải sống cho sạch sẽ và không làm bẩn, phá hại đất đai, môi trường, không để đất Mẹ đau.

-Nợ Chính mình: Vì mình đã sống qua nhiều kiếp rồi, có nợ với mình vì mình đã từng sống có nhiều nghiệp ác, nợ trần gian, nợ không gian, nên mình đã mắc nợ với Linh hồn gốc của mình. Trả nợ bằng cách không ngừng ban phát tình thương, sống hy sinh vì người khác và bản thân phải lành thiện, không được làm ác, nghĩ ác, hại người, hại vật.

-Nợ Nhân loại: Vì Nhân loại cùng gốc là anh em của mình, đều là do Thượng đế sinh ra, nên Nhân loại chung đều là như nhau, không phân biệt. Phải sống Công bình và Bình đẳng, đem hạnh phúc chia đều, đem An lạc hoàn toàn đến cho Nhân loại. Hiền tài là Ý chí của Thượng đế ở Trần gian để cải hóa xã hội, nên phải kính trọng Nhân dân và kính trọng Hiền tài.

                                   3-Nó cần phải làm gì: 7 điều cần.

-Cần phải ăn để nuôi lớn bản thân. Vậy phải ăn, ăn sạch.

-Cần phải khỏe mạnh, thân thể tươi đẹp. Vậy phải luyện tập thể thao và học Huyền công.

-Cần phải học để trở thành các nhà Thông thái như Thượng đế.

-Cần phải sinh hoạt, sống có khoa học và ngăn nắp, sạch sẽ, để có lối sống thanh cao và tác phong Thông thái.

-Cần phải lao động, lao động là vinh quang, để phục vụ bản thân và xã hội, không trở thành kẻ ăn bám, hại người khác.

-Cần phải tu học có thần thông siêu đẳng, bay lên Trời cao khi còn cả thân xác và bay lên Trời cao khi bỏ xác trần, để về với Thượng đế-Vị Cha già đang mong con về!

-Cần phải Nhẫn nhịn, Vị Tha, Cao Thượng: để trở thành Hiền Nhân.

Nhẫn nhịn là biết kìm chế mọi cái bực, ác, khổ, nhục nảy sinh, để không thành nghiệp xấu. Nghiệp là gì: Đơn giản là nó là thứ phải ghánh trên đầu qua các kiếp vì tham, ác, nóng nảy, thù hận, đố kỵ, ghanh ghen, hồ đồ, gian dối…

Vị tha để thương yêu mọi người, không thành nghiệp xấu.

Cao thượng là trở thành Thượng đế, cao lên và bao trùm muôn vật, Nhân loại, sống tha thứ và Minh triết.

Hiền nhân: Là người hiền lành, tâm tính thuần lương có đạo đức, tôn trọng người khác, thiện như một ông tiên, bà tiên tại trần gian.

                                        4-Nó không được: 9 Không.

            Không: Bỏ-Chiếm-Tham-Nói-Quên-Gây-Ở-Nghiện-Ngừng

                                          5-Nó có quyền: 7 quyền

-Có quyền tự vệ chân chính để bảo vệ bản thân, hợp pháp luật.

-Có quyền Sống công bằng, bình đẳng, công bình như người khác.

-Có quyền về việc làm, nhà ở, gia đình, con cái và tài sản cá nhân của riêng mình, nhưng không vượt người khác.

-Có quyền về lối sống riêng mình và tính cách riêng, tự do hoàn toàn trong khuôn khổ gia đình và xã hội. Nếu vượt qua các khuôn khổ đó, nó sẽ bị mất tự do, như con cá nhảy lên bờ.

-Có quyền sáng tạo Không giới hạn, phục vụ tiến hóa của Loài người và Thượng đế.

-Có quyền phục vụ và kết bạn với mọi người. Không phân biệt văn hóa, dân tộc, màu da sắc tộc.

-Có quyền dân chủ tại cộng đồng, được nêu ý kiến; có thể tâu ý kiến lên Quốc Vương và Thượng đế, dù nó còn bé hay đã lớn khôn.

                                            6- Nó phải học: 4 phần.

-Học Bản thể Tự nhiên và Vũ trụ Toàn thể: Tức là Thượng đế. Qui luật Vũ trụ và bản thân nó. Các mức năng lượng Vũ trụ và bản thể nó.

Gồm: Dần học toàn bộ Hệ thống Đạo Pháp-Chính Pháp-Huyền Pháp theo các cấp học từ thấp đến cao. Kết thúc lý thuyết ở cấp học thứ 3: Phổ thông. Cấp 4 chỉ có học đào tạo nghề và chuyên sâu. Luyện Huyền công thì cả đời.

-Học cá nhân: học mọi thứ để phục vụ tiến hóa bản thân và loài người. Được phép học những gì nó thấy thật cần thiết-nhưng không tạo nghiệp ác cho nó.

-Học nhà trường: mọi phương pháp, tri thức để kích thích trí tuệ phát triển, tiến hóa và biết sáng tạo. Có nghề lao động đúng với tài năng, năng khiếu và sở thích.  

-Học xã hội: Trường đời học mãi, cho đến khi mãn trần.

 

                       7-Nó phải trở về với Đấng Sáng tạo. Hợp với Một.

-Là một phần của  Thượng đế. Là một tiểu Vũ trụ thu nhỏ.

Đắc Đạo Trời ngay tại Trần gian này. Học cách bảo vệ Vũ trụ và Thế giới, cải tạo Thế giới này không ngừng.

 

Đây là 7 Điều qui định về Quyền Trẻ em Thánh Đức-phổ giáo thành các Điều Luật.

-Gia đình phải dạy dỗ, giáo hóa từ nhỏ về các điều này. Muốn làm được thì phải là Tấm gương cho trẻ.

-Nhà trường nương theo cách này để làm các chương trình học tập phù hợp.

-Xã hội cộng đồng tôn trọng, động viên và có các Thiết chế để tạo ra Con người Mới Thánh Đức.

                                            Giáo xử với trẻ em

1-Đừng bao giờ bắt ép nó phải hoàn thành một công việc nào, mà hãy quan tâm và động viên nó hoàn thành công việc, trong khả năng của mình.

2-Đừng bao giờ bắt nó phải kỳ vọng vào ước mơ của mình, trong khi nó chưa hiểu và chưa sẵn sàng vào việc đó.

3-Chơi và học là hai đặc trưng của trẻ; không có giải trí, chúng sẽ già trước tuổi. Khi chúng mất tính hồn nhiên, thì bạn nên buồn hơn là nên vui, vì đó là điều báo hiệu sự khổ đau của chúng trong tương lai. Trong khi chúng ta cần sự hồn nhiên suốt đời để tu luyện và hành đạo an lạc.

4-Không gây áp lực với trẻ trong mọi việc.

5-Không sử dụng bạo lực; không sử dụng trẻ em làm các việc của người lớn.

6-Tuyệt đối coi chúng là các thiên thần nhỏ bé. Nếu coi chúng là các Linh hồn tái kiếp để học hỏi, trước hết là học bạn-tức bố mẹ chúng, bạn phải luyện cho chúng vào đường đạo, thì bạn đã giác ngộ Chân Lý.

7-Không nên phát triển tính tự cao, tự mãn, ích kỷ chỉ biết đòi hỏi, thích cưng nựng nuông chiều, mà nên hài hòa giữa chăm sóc và vui tươi trong gia đình; nếu chúng có lỗi trong gia đình, trong trường lớp, thì trước hết phân tích cái sai, cảnh báo điều sai, rồi mới xử phạt nếu chúng không sửa.

8-Tuyệt đối không miệt thị chúng, chửi nhục.

9-Khi chúng hờn dỗi, không nên nịnh chúng ngay, mà làm cho chúng nhanh chóng xóa cơn bực tức, bằng cách thay đổi công việc, hiện trạng, để thay đổi trạng thái tâm lý, để chúng quên giận; sau đó, tùy cơ sẽ vui hòa. Trẻ em thường mau lành, không giận lâu; hầu như không biết hận thù, đố kỵ, tranh dành, ghanh ghen, hằn học với người hơn mình, không biết vu gian, thâm hiểm, hồ đồ, xảo ngôn. Chúng ta phải học chúng điều đó. Trẻ em chính là thiên thần, cũng là nhân tố hài hòa nhất của một gia đình, đó vừa là sức sống, vừa là cán cân hạnh phúc cho chúng ta. Trẻ em làm chúng ta thấy cuộc đời có ý nghĩa và giác ngộ hơn về Chân lý tối cao, chúng ta trở thành vị Thượng đế khi sinh ra chúng, hãy làm cho chúng hạnh phúc. Kẻ nào khinh ghét trẻ em, sợ gần trẻ em, không quý trọng trẻ em, kẻ đó không xứng được làm bố mẹ.

10-Dạy trẻ mọi điều đạo đức là cần thiết, nhưng có một điều phải dạy trẻ ngay từ lúc nhỏ là sự vô chấp, trung dung và không giáo điều. Nếu giáo điều, chúng ta sẽ làm khô cứng cả thế giới này. Tức không bám vào kinh sách, sách vở, rồi thì ra rả như ve, như cuốc kêu mùa hè, để con cháu chúng ta thành đám vỏ đỗ vỏ lạc ngay từ nhỏ.

Bố mẹ vô chấp, vô tư, hồn nhiên, thì con cái sẽ như thế. Bố mẹ vị tha, cao thượng, độ lượng, nhân từ, biết sống vì người khác, vì xã hội, thì con cái cũng như thế.

Nếu nó không được như thế, thì phải xem lại phương pháp.

11-Lòng hy sinh vì con, sẽ biến nó có lòng hy sinh vì mọi người, đừng biến lòng hy sinh của mình vì chúng thành sự ích kỷ của chúng. Đó là điều khó.

12-Các trẻ em, là những Linh hồn tái kiếp, sẽ có những năng khiếu cũ, kinh nghiệm cũ của chúng được biểu lộ. Nền giáo dục và phương pháp giáo dục làm sao làm phát lộ, nâng cao, phát huy, sử dụng và tạo môi trường tốt nhất cho những kinh nghiệm ấy, thành tài năng, năng lực, thiên tài.

13-Sáng tạo, sáng tạo không ngừng, tiến hóa, tiến hóa không ngừng, trên cái nền vĩ đại. Hãy dạy tuổi trẻ điều đó.

14-Lúc bé, là thiên thần, lớn lên, thành kẻ ăn mày quá khứ, có thể hư hỏng, phải tu luyện để không thành kẻ ăn mày quá khứ, để đến già, thành lại thiên thần.

15-Giáo dục đạo đức từ bé đến trung học; đến đại học cao, thì khỏi cần giáo dục đạo đức, mà dạy học và hành nghề. Đến lúc đại học mà còn giáo dục đạo đức, thì đó là thiếu xót của cả xã hội.

16-Về già mà vẫn giữ được tính hồn nhiên như trẻ thơ, mới gọi là đắc đạo.

Đã hồn nhiên thì không thể thâm hiểm, âm hiểm.

17-Học không bằng hành. Hành không bằng quả tốt. Tốt không bằng cho người.

18- Ý chí của trẻ em là chỉ ghi nhớ điều nó hiểu biết. Nên nhớ hiểu biết khác học giáo khoa. Học giáo khoa vốn học chuyên, trong khi hiểu biết là cả trường đời là lớp học.

 

 
Copyright © 2013-2033 CÔNG NGHỆ ET
Powered by MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT