BREAKING NEWS

Phát triển Tâm thức

MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT

Chuyển hóa Địa cầu

THỨC TỈNH - MỤC ĐÍCH BÊN TRONG BẠN


Tỉnh thức là một sự thay đổi về ý thức (consciousness), qua đó nhận thức (awareness) tách ra khỏi tư duy (thought, thinking). Với hầu hết mọi người, đây là cả một quá trình chứ không phải là một biến cố. Ngay cả đối với một vài người hiếm hoi đã có được sự tỉnh thức nhanh chóng, mạnh mẽ và không thể đảo ngược, họ vẫn còn phải trải qua một thời kỳ rất dài để những nhận thức mới này có cơ hội thấm dần và biến đổi thành hành động và trở thành một phần chính yếu trong đời sống của họ.

Thay vì tự đánh mất mình trong tư duy, khi tỉnh thức, bạn nhận ra rằng mình là nhận thức nằm ở đằng sau những tư duy. Lúc đó tư duy sẽ không còn là một hoạt động mất tự chủ, chiếm hữu bạn và điều khiển bạn như trước đây. Khi tỉnh thức, nhận thức của bạn sẽ tự tách mình ra khỏi tư duy và giành lấy chủ quyền. Thay vì kiểm soát bạn như trước đây, tư duy bây giờ sẽ trở thành trợ thủ cho nhận thức. Nhận thức bây giờ là một sự nối kết có ý thức với trí tuệ của vũ trụ (universal intelligence), là trạng thái nhận thức tinh tấn mà không cần phải qua suy nghĩ.

Khởi đầu quá trình tỉnh thức là một ân sủng. Bạn không thể làm cho sự tỉnh thức xảy ra, cũng không thể chuẩn bị hoặc tích lũy công đức nhờ những chuyện mình làm. Không có một trình tự hợp lý nào có thể đưa bạn đến với tỉnh thức. Để bước vào cánh cửa của tỉnh thức, bạn không cần phải trở thành một người xứng đáng. Tỉnh thức có thể xảy đến với một kẻ tội đồ trước so với một người thánh thiện. Đó là lý do tại sao Chúa Jesus đã liên hệ với đủ mọi hạng người chứ không chỉ là những người đáng kính trong xã hội. 

Bạn không thể làm gì để thúc đẩy quá trình tỉnh thức xảy ra nhanh hơn. Những điều bạn làm thì chẳng qua chỉ là những cố gắng của bản ngã để cố gắng sở hữu sự tỉnh thức, vì bản ngã bạn cho rằng “ tỉnh thức là một vật sở hữu rất đáng quý”. Do vậy, thay vì thực sự có được sự tỉnh thức, bạn chỉ tạo nên một khái niệm về tỉnh thức vào trong đầu mình, hay tạo thêm một mẫu mực trong đầu về một người đã tỉnh thức hay giác ngộ, rồi bạn cố gắng sống đúng như mẫu mực đó. Sống theo một tiêu chuẩn, mẫu mực mà mình hoặc người khác vẽ vời ra cho mình là sống không chân thực – là đóng một vai diễn khác một cách vô thức của bản ngã. Nhưng nếu như thế thì ta chẳng làm gì được để cho sự tỉnh thức thực sự xảy ra ở trong ta thì làm sao ta có thể biến nó thành mục đích chính của đời mình?

Chỉ có phút tỉnh thức đầu tiên, lúc bạn bất chợt nhìn thấy bằng ý thức mà không qua suy nghĩ, là điều chỉ xảy ra nhờ ân sủng của trời đất. Một số người, tỉnh thức xảy ra khi họ nhận thức được rằng những suy nghĩ trước đây, là những suy nghĩ tiêu cực cố hữu mà họ đã từng đồng nhất mình với nó từ xưa đến nay.

Einstein đã từng nói: “Tôi chỉ muốn biết ý muốn của thượng Đế là gì, những thứ còn lại không quan trọng”. Ý muốn của Thượng Đế là gì? Là trở nên có nhận thức. Biết được ý muốn của Thượng Đế nghĩa là gì? Là mang nhận thức sáng suốt ấy vào trong đời sống hàng ngày của bạn. Còn những thứ còn lại không quan trọng là gì? Là mục đích bên ngoài của đời bạn, những gì xảy ra ở bên ngoài. Vì thế khi bạn trông đợi một điều gì đó có ý nghĩa xảy ra trong đời sống, có lẽ bạn đã không nhận ra điều có ý nghĩa nhất có thể đến với mình, đó là: Phút khởi đầu của quá trình phân ly giữa nhận thức và tư duy.

Khi đang trải qua giai đoạn đầu của quá trình tỉnh thức, nhiều người không còn cảm thấy hứng thú về mục đích bên ngoài của mình. Những gì đang chi phối thế giới không còn chi phối họ được nữa. Họ nhận thức rõ sự điên rồ của nền văn minh đương đại, họ cảm thấy khá lạ lẫm với nền văn hóa chung quanh họ. Có người còn cảm thấy là họ đang sống trong một vùng đất xa lạ, họ không còn bị bản ngã chi phối nhiều như trước. Tuy nhiên nhận thức mới mẽ này vẫn chưa hoàn toàn hòa nhập và chi phối cuộc sống của họ được. Nói cách khác, do mục đích bên trong và bên ngoài của họ chưa hòa hợp được với nhau.

Sống mà không hòa hợp với mục đích bên trong thì cho dù bạn có thành công với những gì ở bên ngoài, dù bạn có tạo ra thiên đàng ở hạ giới, thì đó vẫn chỉ là những thành tựu của bản ngã, không sớm thì muộn sẽ tàn lụi theo thời gian và bạn sẽ gánh chịu khổ đau. Nếu bạn lãng quên mục đích bên trong của mình thì dù bạn có làm gì đi nữa, kể cả những điều thuộc lĩnh vực tâm linh, bản ngã của bạn cũng sẽ len vào can thiệp cách của bạn làm, và phương tiện sẽ phá hủy cứu cánh – như cách nói của câu châm ngôn: “Đường đến địa ngục và khổ đau thường bắt đầu từ thiện chí của chúng ta”. 

Nói một cách khác, “ trạng thái nhận thức” của bạn là quan trọng nhất, chứ không phải mục đích hay hành động của bạn, vì nhận thức của bạn sẽ hướng dẫn mục đích hay hành động. Hoàn thành mục đích chính của đời sống, chủ yếu là đặt cơ sở cho một thực tại mới, một cõi trời mới. Một khi bạn đã có cơ sở đúng đắn ở bên trong rồi, thì mục tiêu bên ngoài như được tạo thêm năng lượng tâm linh, khiến cho mục đích bên ngoài và những điều bạn mong muốn thực hiện sẽ hợp nhất một cách tự nhiên với trào lưu tiến hóa của Vũ trụ

TẦM NHÌN TRONG SÁNG VÀ SỰ SỐNG LÀNH MẠNH

Trong mọi cây cối, trong tiếng hót líu lo của con chim, trong loài côn trùng và khoáng thạch, ở trên trời và ở dưới nước, đâu đâu cũng có sự mỹ lệ tuyệt vời. Mỗi nguyên tử và mỗi sinh vật đều là một sự nhiệm mầu đầy ý nghĩa và rất dễ thương. Người ta càng biết nhiều về giải phẫu cơ thể, về sinh lý, về các hoạt động, và mối quan hệ của nó với những tạo vật khác, thì người ta càng sửng sờ về sự nhiệm mầu của Thiên nhiên. Một cái mạng nhện với những sợi tơ nhện có hình dáng đối xứng và màu sắc rực rỡ, khi xét về tỉ lệ ắt có sức bền còn lớn hơn nhiều so với những kiến trúc đồ sộ của con người. Cái con nhện nhỏ bé đó bản thân nó là một điều gì mỹ lệ, cứ sáng tạo và tái sáng tạo thoải mái. Cái hạt giống cây đa bé tí xíu lại mọc lên thành một cây đa đồ sộ; đứa trẻ lạc loài trở thành một người nam hoặc nữ trưởng thành. Sự tăng trưởng, sự sống và sự chết cũng đều là những phép nhiệm mầu. 

Bạn ắt thấy một chiếc lá đã chết rồi, nó màu vàng và màu đỏ tươi, một chiếc lá rụng vào mùa thu. Chiếc lá đó đẹp xiết bao và khi nó chết cũng đơn giản xiết bao, sống động xiết bao, vì nó chứa đầy vẻ đẹp và tràn trề nhựa sống của trọn cả cái cây vào mùa hè.

Như vậy vẻ đẹp có ở khắp mọi nơi, khi các sự vật chết đi, khi chúng tăng trưởng cũng như khi chúng được sinh ra.


Vẻ đẹp có ở trong những hình tướng và màu sắc, trong âm thanh và kết cấu, trong những sự vật mà chúng ta nhận thức được bằng giác quan, nhưng vẻ đẹp cũng có nơi những sự vật mà ta chưa bao giờ nghĩ tới. Đó là sự tương quan của vạn vật, những chức năng mà chúng ta thực hiện cùng với những mục đích ẩn tàng của mình. Một Chơn sư đã viết rằng:

Thiên nhiên đã nối kết mọi bộ phận thuộc cõi giới của mình bằng những sợi chỉ mảnh mai của sự đồng cảm do hấp dẫn và thậm chí có cả một mối tương quan giữa một ngôi sao với một con người.

Vẻ đẹp là một biểu hiện hoặc một khía cạnh của một ý nghĩa ẩn tàng không liên quan tới những ham muốn hoặc nhu cầu của bất kỳ ai. Nó vốn thiết yếu đối với mỗi sinh vật. Ý nghĩa của một cái cây không phải ở nơi việc nó có công dụng để làm nhiên liệu; giá trị của một con chiên không phải ở nơi nó dùng để ăn thịt. Mục đích và giá trị vốn cố hữu như Thomas à Kempis có nêu rõ:

Chẳng có một tạo vật nào bé nhỏ và hèn mọn đến nỗi mà nó không biểu diễn được lòng tốt của Thượng Đế.

Ở đây ông có gợi ý nói rằng vẻ đẹp vốn cố hữu nơi cội nguồn của sự sống, tức là Thượng Đế.

Con người là một bộ phận của thế giới Thiên nhiên, nó thật là dễ thương, tràn đầy ý nghĩa với những mối quan hệ tinh vi nhưng chúng ta nào có biết đâu và đó chính là bi kịch của chúng ta. Người ta dạy cho ta tin rằng ‘thế giới’ là cái thế giới mà chúng ta đã tạo ra và xây dựng những công trình kiến trúc, đường rầy xe lửa, những phép lạ về điện tử, những định chế chính trị, cấu trúc xã hội, chiến tranh, chia rẽ và v. v. . . Tất cả mọi điều này đều là xã hội của loài người, nhưng đối với hầu hết mọi người thì đây chính là ‘thế giới’.

Ngày nay, đối với hàng triệu người đang sống ở vùng đô thị thì Thiên nhiên vật lý là nghìn trùng xa cách. Họ chẳng biết điều gì ngoại trừ đường phố, tiếng ồn ào và sự vật nhân tạo. Ngay cả những người sống trong lòng Thiên nhiên ở vùng thôn quê cũng lại chẳng biết gì, vì sự nghèo đói đã bắt buộc họ phải lao động quần quật từ sáng đến tối. Vì họ nghèo cho nên đối với họ, mọi thứ đều là một đồ vật để chiếm hữu và sử dụng. Những người khác bị chế định về mặt tư tưởng khi nghĩ rằng điều quan trọng trong cuộc sống là phải phấn đấu để cải thiện bản thân đến nỗi mà họ bị giam hãm trong cái hoạt động qui ngã (self centred) của riêng mình và chẳng biết gì tới thế giới thực sự.

Đối với mỗi người thì thực tại đều khác nhau. Điều có thực đối với người này lại không có thực đối với người khác. Khi một người có nguy cơ ngay trước mắt sẽ bị mất mạng, nếu sự an toàn cốt ở việc phải buông bỏ tài sản thì tài sản đâu còn có ý nghĩa thực tại như trước kia nữa. Tiếc thay, người ta cứ tưởng rằng ‘thực tại’ của mình là chắc chắn và vì vậy họ mới xem xét một cách nghiêm túc và không bao giờ thắc mắc về những ham muốn và xung đột, lo âu, bực tức, hi vọng và thất vọng, thù ghét và căng thẳng của mình.

Xã hội loài người có những qui tắc của riêng mình giống như một trò chơi túc cầu hoặc khúc côn cầu trong một khuôn khổ nhất định. Những qui tắc đó bảo rằng quả banh không được ra khỏi cái vùng sân đã kẻ vạch. Tại sao lại không ? Bởi vì trò chơi đã được tạo ra như thế và bất cứ ai chơi thì cũng theo qui tắc đó. Những qui tắc này không bắt nguồn từ sự thật hoặc nguồn gốc cao siêu; chúng thuộc về một hệ thống nhân tạo khiến cho người chơi có thể cạnh tranh, thắng hoặc thua. Xã hội loài người cũng giống như cái trò chơi với những qui tắc được xây dựng một cách nhân tạo như thế. Người ta có thể gọi chúng là luật lệ, song le chúng đã được bày đặt ra do qui ước, truyền thống, nhà cầm quyền hoặc các giáo sĩ dựng nên. Xã hội hiện đại bảo rằng bạn phải chiến đấu để được thành công, phải xếp ở hàng đầu, phải thụ đắc càng nhiều càng tốt.Cũng giống như những người đang tham gia vào trò chơi, khi trò chơi càng trở nên chộn rộn thì người chơi lại càng ít có thể thấy rõ được. Liệu một người chơi túc cầu trong khi trò chơi đang túi bụi lại có thể nào quan sát được một điều gì đó ở bên ngoài chăng ? Ta hãy yêu cầu y quan sát một con chim vỗ cánh bay thanh thản trên bầu trời. Y không thể làm được như vậy trong khi y còn đang chơi. Cũng giống như vậy, những người nào đang tham gia vào ‘trò chơi’, cho dù đó là chiến tranh, chính trị hoặc sự cạnh tranh kinh tế đều không thể thấy rõ được. Họ vốn không ý thức được sự xấu xa và tàn bạo của trò chơi, sự vô cảm mà nó tạo ra, sự ngây thơ bị nó làm mất đi. Họ cũng chẳng nhận thức được cái sự dễ thương ở bên ngoài cấu trúc của xã hội loài người. Đối với họ, ý nghĩa của cuộc sống thật là xa vời. Những công việc mà họ theo đuổi, những ý tưởng và ý thức hệ giống như những đám mây dày đặc che khuất mặt trời chân lý.

Bây giờ chúng ta hãy xét xem theo quan điểm của óc suy xét phải trái bình thường thì thế nào là lành mạnh, thế nào là điên rồ. Điên rồ tức là không tiếp xúc được với điều thực sự tồn tại, điều chân thực. Kẻ điên nếm trải một thực tại không dính dáng gì tới sự thật. Khi một người nào đó tự xưng là Chúa Giê su Christ, là nữ hoàng Cleopatre hoặc Thánh Gandhi thì những người khác bảo rằng y bị điên vì ý tưởng đó chỉ tồn tại trong tâm trí y thôi, chứ không phải là một sự thật. Vì điều phi thực dường như là thực tại đối với y nhưng không được những người khác chia xẻ, cho nên điều phi thực đó được gọi là điên. Trong sự phóng chiếu tâm trí của một người điên thì ta thấy không có lý trí, lý luận, sự thủy chung như nhất và thứ tự. Sự phóng chiếu này ít liên quan tới thế giới thực tại, thế giới giá trị và thế giới ý nghĩa đến nỗi mà y không thể dấn thân vào một hành động hữu hiệu.

Liệu tâm trí của con người nói chung có khác hẳn với tâm trí của kẻ điên chăng? Nó cũng đầy dẫy những điều mâu thuẫn và phi lý. Nó vốn tách rời khỏi sự thật của Thiên nhiên mà chúng ta có nói đến với sự vinh diệu, ý nghĩa và sự lộng lẫy trong sự thật đó. Vì đại đa số loài người đều sống trong sự phi thực của những cuộc đấu tranh và tham vọng của mình, cho nên nó đâu phải là một thực tại có giá trị hơn. Bertrand Russel có nêu rõ rằng thiên hạ có khuynh hướng chấp nhận hành động của quần chúng chứ không chấp nhận hành động đó nơi một cá nhân. Khi cá nhân giết một người khác thì đó là một ‘sự sát nhân’, nhưng nếu khối quần chúng này giết khối quần chúng khác thì đó lại là ‘lòng ái quốc’. Tương tự như vậy, nếu tâm trí của một người không hợp lý hoặc không trước sau như một và không liên quan tới những sự thực thì người ta bảo rằng y bị điên. Nhưng vì hết mọi người đều hành động như vậy cho nên chẳng ai dám bảo như vậy là điên. Nhưng đó quả thật là điên. Trong mọi hệ thống tôn giáo và xã hội đều rành rành có những sự tiền hậu bất nhất và mâu thuẫn. Tín đồ Ấn giáo tôn vinh phát biểu trong Áo nghĩa thư theo đó tất cả là Brahman, là chân lý tối thượng, thế nên người Ấn Độ lại tạo thành một hệ thống những kẻ thuộc giai cấp hạ đẳng, trừng phạt và làm nhục những bà góa phụ, như vậy họ đã chứng tỏ rằng mình điên. Những nhóm khác đã giết người nhân danh tình thương, tôn giáo và giáo chủ của mình. Các chính quyền khuyến khích việc trồng thuốc lá và tiếp tay cho nhân dân mắc bệnh tật để rồi lại đảm đương những đề án cứu chữa bệnh nhân. Người ta thích dùng thực phẩm đã bị lấy hết chất dinh dưỡng nhưng lại được tăng cường vitamin . . . Mọi địa hạt sinh hoạt chính trị, giáo dục, xã hội, kinh tế và cá nhân, khắp nơi trên thế giới đều có những bằng chứng nổi bật về những hoạt động phi lý đó cho ta thấy con người không thể nhìn ra được những mâu thuẫn như vậy. Phải chăng con người chỉ là những đứa trẻ xây dựng tòa nhà trên bãi cát để bị sụp đổ, hoặc những kẻ tâm thần phân liệt bị giằng co bởi những mâu thuẫn nội tâm ? Chúng ta ắt chẳng thích phát hiện ra nơi bản thân những yếu tố ấu trĩ hoặc điên rồ đó, nhưng có lẽ là chúng tồn tại.

Khi chúng ta có ý thức về những sự kiện này thì ta ắt phản ứng ra sao ? Nói chung thì ta ắt có một sự thôi thúc muốn làm một điều gì đó về việc này. Hành động là điều mà hầu hết mọi người đều tin tưởng, nhưng hành động của họ vốn bắt nguồn từ một tâm trí chẳng biết đâu là sự thực. Mỗi người chỉ thấy một mẩu nhỏ trong chừng mực mà nó có ảnh hưởng tới mình. Cái bộ óc thú vật nơi con người vốn được kế thừa từ quá khứ xa xăm chỉ có thể hành động theo phản xạ. Ngay cả khi một người dừng lại để nhận biết xem mình đang làm gì thì hầu như y thường là không thực sự suy gẫm, mà chỉ xào xáo lại những y tưởng đã được làm sẵn, được thu thập từ đây đó để rồi được tụ tập lại trong cái khuôn khổ phi lý thuộc nội dung của tâm trí. Do đó hành động được xúc tiến mà không có sự hiểu biết. Vì vậy, mặc dù có rất nhiều nhà cách mạng, nhiều nhà lý tưởng và nhiều nhà cải cách, thế giới vẫn đi theo con đường điên rồ, có lẽ hướng về sự hủy diệt. Nếu không có chánh kiến vốn là sự hiểu biết, nếu không biết được sự toàn vẹn và bản chất chân thực của sự vật, thì hành động chỉ là mù quáng và nó sẽ hủy diệt sự nhạy cảm. Như vậy, người ta dần dần càng trở nên ít có khả năng xem xét và quan sát, ít có khả năng nhận biết được vẻ đẹp và ý nghĩa của cuộc sống, ít có khả năng học được sự thật là thế nào.

Người ta thường nỗ lực hướng về việc trở thành một điều gì đó, thành tựu, uốn nắn người khác, chế tác và bóp méo những mối quan hệ theo nhu cầu tiện lợi. Y muốn hành động và thành tựu theo kiểu này làm nảy sinh ra một ý tưởng giả tạo về lợi ích, vì cuộc sống dường như nhất thời viên mãn cho đến một biến cố hoặc một tai nạn, một tai họa không tiên liệu trước được làm sụp đổ ảo tưởng của con người. Sự ham muốn thành tựu là cha đẻ của sự sợ hãi, lo âu và đấu tranh. Nhà hiền triết Trung Quốc Trang tử có dạy rằng:

Tâm trí của bậc chân nhân giống như một tấm gương. Nó chẳng nắm bắt điều gì, nó chẳng trông mong điều gì, nó chỉ phản ánh chứ không ôm giữ. Do đó bậc chân nhân có thể hành động mà không cố gắng.

Hầu hết mọi người đều phấn đấu để làm cho cuộc sống có ý nghĩa bằng cách nắm bắt và ôm giữ. Đây là một nỗ lực chỉ hoài công thôi. Ý nghĩa có ở khắp mọi nơi trong cuộc sống. Chúng ta chẳng việc gì phải ‘tạo ra’ ý nghĩa; chúng ta chẳng việc gì phải ‘tạo ra’ các mối quan hệ. Mối quan hệ là một phần của cuộc sống ở một mức độ sâu sắc và tinh vi cũng như ở mức độ bên ngoài.

Những người đang phấn đấu ‘làm việc’ cứ tưởng rằng những cuộc xung đột ở bên ngoài; đó là một phần sự mù quáng của họ. Chỉ khi nhìn kỹ thì người ta mới thấy rằng sự xung đột vốn ở bên trong. Các vấn đề cũng không ở bên ngoài mà ở bên trong. Như vậy, một người ghen tương thấy sự vật theo cơn ghen của mình; kẻ khiếp nhược tưởng tượng ra mọi điều nguy hiểm ở khắp nơi; kẻ kiêu hãnh thấy ở đâu cũng có sự xúc phạm. Khi người ta nghĩ rằng các vấn đề và sự xung đột đều ở bên ngoài thì người ta đâu có tự cho mình là chịu trách nhiệm. Họ không thấy rằng sự điên rồ của xã hội là do chính mình tạo ra. Nhưng chúng ta là xã hội, lúc nào chúng ta cũng đang tạo ra nó, các thái độ của ta đang xây dựng ngoại cảnh. Sự lẫn lộn và xâm lược vốn ở bên trong tâm trí của ta ắt bị dội lại với ta trong nhiều hình thức khác nhau và là cội nguồn của sự phiền não của ta. Tiếc thay, chúng ta lại không thấy như vậy. Chúng ta nghĩ rằng sự phiền não xuất phát từ đâu đó. Như vậy thật quan trọng là trước hết ta không nên hành động. Ta phải học cách nhìn thấy được cho rõ ràng. Đức Phật có dạy rằng, chánh kiến, tầm nhìn rõ ràng (samyak drishti) là bước đầu tiên của Đường Đạo. Nếu chúng ta không thể thấy rõ ràng, sâu sắc và rốt ráo, hiểu được trọn cả bản chất của thực tại, thì hành động của ta ắt sẽ tạo ra một môi trường xung quanh điên rồ. Chỉ kẻ nào thấy rõ được sự xấu xa của xã hội loài người lẫn vẻ đẹp của cuộc sống thì mới trải nghiệm được chân ý nghĩa mà không cần phải mưu cầu nó.

Chúng ta ít khi nhìn vào một cái cây, hoặc một trái núi, hoặc một người đồng loại, nhưng khi làm như vậy thì ta sẽ thấy được những điều gì ? Có lẽ ta chỉ thấy được hình tướng một cách không hoàn hảo mà không biết được sự sống bên trong hình tướng. Những tư tưởng trong quá khứ của ta đã kết tinh lại thành ra một hình ảnh hoặc một khái niệm rồi phóng chiếu chúng vào giữa tâm trí và sự thật vốn có thể ở trong một chiếc lá, một tảng đá, một con người, ở bất cứ nơi đâu và ở khắp mọi nơi. Và vì tư tưởng chen vào giữa cho nên sự vật có một dáng vẻ khác. Nội dung bên trong xuất hiện giống như sự vật bên ngoài và sự phóng chiếu của tâm trí xuất hiện giống như sự thật. Chỉ khi tâm trí giống như tấm gương mà Trang Tử có nói tới, không vướng bụi trần thì tâm trí mới thấy rõ. Chừng nào mà tâm trí còn chất đầy nội dung dưới dạng những phản ứng, ý tưởng, ý thức hệ, phán đoán, phân tích và v. v. . . , thì nó không thể phản ánh đúng sự thật. Như vậy, muốn thấy được rõ ràng thì tâm trí phải thanh khiết, tự do, không bị méo mó, không mâu thuẫn. Điều này có nghĩa là nó phải nhìn vào chính mình. Chính nhờ sự tự tri, nhờ sự hiểu biết được đang diễn ra bên trong tâm trí thì mới có sự minh bạch. Lúc bấy giờ tâm trí trở nên tự do hơn, thanh khiết hơn và có nhiều năng lượng hơn.

Những sự mâu thuẫn làm cho tâm trí mất đi sức sống. Sự lo âu, tham vọng, sự hiểu lầm v. v. . . là những dạng tinh vi của sự xung đột và do đó làm thất thoát năng lượng. Khi ta có được sự tự do và thanh khiết thì tâm trí mới có được sức mạnh lớn lao, thì nó mới có thể thâm nhập vào trong chính mình, cũng như thâm nhập vào trong bản chất và ý nghĩa của cuộc sống. Ta hãy lại nghe Thomas à Kempis nói một lần nữa:

Con người càng hiệp nhất bên trong bản thân, trở nên đơn giản và thanh khiết trong nội tâm thì y càng dễ dàng hiểu được những điều cao siêu hơn vì nhờ đó y đã nhận được ánh sáng trí tuệ từ bên trên.

Những điều chất chứa trong tâm trí, những điều mâu thuẫn và phán đoán, những ý tưởng và sự đấu tranh tất cả đều là bản ngã. Đó là cái thực chất mà bạn có thể gán cho nó một lý lịch, bạn nhớ tới nó và bảo rằng ‘đây là tôi’. Nhưng cái lý lịch đó vốn chẳng dựa trên điều gì cả. Cái bản ngã mọi người tuyệt vọng bám lấy mà y nghĩ tới rất nhiều, lại chính là một phần của sự điên rồ. Bởi vì nó mong manh xiết bao, là một thứ phù du chẳng ra gì cả, cho nên nó phải không ngừng phấn đấu để duy trì, khằng định và tự xây dựng mình. Vì đang phấn đấu như vậy cho nên nó không thể thấy rõ được; do đó không thể có một sinh hoạt lành mạnh. Như ta đã lưu ý, sự điên rồ bắt nguồn từ việc không thấy rõ. Do đó, khi sự vỗ ngực xưng tên đã giảm bớt thì mới có sự lành mạnh, sự toàn vẹn, tầm nhìn trong sáng và việc khám phá ra ý nghĩa và vẻ đẹp.

Những người biết suy tư thường thắc mắc: ‘Đâu là ý nghĩa của cuộc sống’ ? Kẻ chẳng biết suy nghĩ cứ tưởng rằng mình có thể đạt được ý nghĩa bằng cách thành tựu một điều gì đó; đôi khi họ cố gắng tìm ra ý nghĩa nơi vợ con. Nhưng ta không cần tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Khi ngắm nhìn mặt trời lặn có ai thắc mắc ‘Đâu là ý nghĩa của mặt trời lặn’ chăng ? Tự thân vẻ đẹp đã có ý nghĩa rồi. Buổi hoàng hôn vốn có và thế là đủ rồi. Tất cả trong cuộc sống đều cũng như thế cả. Chúng ta càng quay ngoắc đi và xây dựng một thế giới nhân tạo với những qui tắc của riêng mình để tham gia vào một trò chơi, thì chúng ta càng ít được ban phúc qua việc trải nghiệm chân ý nghĩa. Nhưng khi tự hiểu biết được mình và có tầm nhìn trong sáng, thì ta mới có thể mở toang ra một thế giới hoan lạc và mỹ lệ, tốt đẹp, và linh phước hằng mới mẻ mà trước nay ta chưa hề biết tới.

---------------------------

Từ bi không phải là thuộc tính. Đó là Qui luật của các Qui luật, là sự Hài hòa vĩnh hằng, là Chơn ngã A lại da, là bản thể vô biên của vũ trụ, là ánh sáng của điều Đúng đắn đời đời, là sự thích ứng của vạn vật, là qui luật của tình thương vĩnh hằng.

HẠNH PHÚC CỦA NHÂN LOẠI



Vào đầu thế kỷ thứ 18, hạnh phúc đã được quan niệm như là một nhân quyền căn bản và được đề xướng như vậy trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của mười ba thuộc địa nổi loạn, sau kết hợp thành xứ Hoa Kỳ. Cũng trong thế kỷ đó, một văn hào Anh Quốc William Blackstone cũng xác nhận nhân quyền ấy khi ông tuyên bố rằng ý của Thượng Ðế, Cha lành của nhân loại, là con người phải được hạnh phúc.

Tiếc thay, nhân quyền ấy ngày nay chỉ còn là một lời nói suông vì hạnh phúc bị đồng hoá với khoái lạc và dùng làm nền tảng cho chủ nghĩa cá nhân. Hậu quả là sự kỳ thị chủng tộc, là sự xung đột tôn giáo, là sự ganh ghét, bóc lột, chia rẽ và chiến tranh khiến một số đông nhân loại nghèo đói, đau khổ. Giữa các nỗi lầm than ấy, ai là kẻ từ tâm mà còn nỡ nghĩ đến hạnh phúc mình? Quyền tìm hạnh phúc như không còn hay chỉ dành cho một ít người.

Vậy làm sao nhân loại có thể tìm hạnh phúc?

Theo một nhà tâm lý học trứ danh, vấn đề không thuộc phạm vi kỹ thuật mà tuỳ bản chất con người. Quả thế, khi con người sáng chế nhiều khí cụ mới lạ, liệu con người có thể sử dụng chúng để phục vụ nhân sinh không? Câu trả lời là không. Vì vậy, nhiều triết gia nhìn nhận sự cần thiết cải thiện bản chất của con người. Thiên trách của người Hợp Nhất không phải là biến đổi ngoại cảnh mà là cải tiến bản chất của chính mình, cũng không phải phân phối đồng đều năng lượng bên ngoài mà chia vận dụng hợp lý khí lực nội tâm. Có thế, chúng ta mới tạo được hạnh phúc chân thật.

Trong kinh Bhagavad Gita, ở bài diễn từ thứ năm, Ðức Krishna dạy Arjuna: "Con người phải được hạnh phúc ngay trước khi giải thoát khỏi xác thân và áp lực của dục vọng". Hạnh phúc mà Ðức Giáo Chủ nói đây không phải phát sinh từ chế độ chính trị hay xã hội cũng không phải do một tâm trạng ồ ạt, quay cuồng. Ðó là những khoái lạc giả tạo, ngắn ngủi, một lớp son bên ngoài mà thôi.

Những kinh sách xưa cho rằng thực thể của con người là một mảnh nhỏ của thực thể đại đồng và quả quyết khi con người sống hoà hợp với thực thể đại đồng " ấy là Ðại Ngã " nghĩa là rung động cùng một tiết điệu với Ðấng Duy Nhất hiện diện khắp nơi thì đương nhiên, hạnh phúc sẽ bùng phát ở trong lòng. Ðó mới là hạnh phúc chân thật. Khi hạnh phúc được quan niệm như vậy thì sự tìm hạnh phúc sẽ có cơ thực hiện.

Vì vậy, người Hợp Nhất hằng ngày phải biến chuyển lòng mình để sống hoà hợp với các định luật thiên nhiên. Nói khác đi, chúng ta phải chủ trị tình cảm và dục vọng riêng tư để tâm trí hoà âm với vạn vật. Nếu chúng ta để chúng nó lôi cuốn thì bão tố sẽ phát động ở lòng và biểu lộ bằng những trận xô xát hay chiến tranh. Trái lại, nếu chúng ta cố tiến lên sự đồng nhất giữa bản ngã con người và Ðại thể Vũ trụ và nhất quyết bám chặt vào Ðại thể này, chúng ta sẽ đương đầu vững vàng với các phong ba của dục vọng thấp hèn và các bạo lực của thành kiến rẽ.

Ông Miguol Serrano, một văn sĩ kiêm chính trị gia ở Nam Mỹ cho biết sau cuộc động đất dữ dội ở Chi Lê, bác sĩ C. G. Yung viết cho ông: Trái với nhiều khoa học gia, tôi tin quả đất náo động theo những trận bão ở lòng người. Giữa ngoại cảnh và nội tâm, có một sự liên hệ mật thiết. Nội tâm quay cuồng thì ngoại cảnh chuyển động. Vật muốn chấn chỉnh ngoại cảnh, nhân loại phải cải tiến nội tâm. Một khi lòng ta hoà hợp với Ðại Ngã, sự bất hoà sẽ không còn thấy ở quả địa cầu và sự thông cảm, mến thương sẽ thay thế mọi sự xung đột gây ra bởi sự kỳ thị chủng tộc, tôn giáo hay chính trị.

Vậy mỗi người Hợp Nhất phải là một trung tâm bình an, hoà hợp, từ đó ảnh hưởng lành sẽ lần lần lan rộng để bao trùm nhân loại trong tình huynh đệ đại đồng.

ĐẠI THỈNH NGUYỆN


Từ tâm Ánh Sáng trong trí Thượng Đế
Xin cho ánh sáng tuôn thẳng vào trí người
Xin cho ánh sáng tràn lan địa cầu. 
Từ tâm Thương Yêu trong tim Thượng Đế
Xin cho thương yêu tuôn thẳng vào tim người
Xin Đấng Cao Minh giáng sinh 
Từ trung tâm nơi Thiên Ý biểu lộ
Xin cho ý cao hướng dẫn ý người
Ý cao mà các Chân Sư biết và phụng sự. 
Từ trung tâm mà con người phát xuất
Xin cho Thiên Cơ đầy thương yêu và Ánh Sáng tựu thành
Và xin nó đóng kín lối dẫn vào sự ác.
Xin Ánh Sáng, Tình Thương và Quyền Lực tái lập Thiên Cơ trên địa cầu.


The Great Invocation

From the point of Light within the mind of God
Let light stream forth into the minds of men
Let Light descend on Earth 
From the point of Love within the heart of God
Let Love stream forth into the heart of men
May High Almighty God incarnate to Earth 
From the centre where the Will of God is known
Let purpose guide the little wills of men 
The purpose which the Masters know and serve. 
From the centre where we call the race of men
Let the Plan of Love and Light work out
And may it seal the door where evil dwells 
Let Light, Love and Power restore the Plan on Earth.

Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG CỦA ĐAU KHỔ



Chúng ta cùng xét tới một vấn đề khiến cho mọi người đều hết sức chú ý sâu sắc khi mọi người đi theo con đường đó – Ý nghĩa và Công dụng của Đau khổ. Trước hết là Ý nghĩa. Các bạn có thể nhớ lại rằng về bản chất của con người và cách thức theo đó ta coi Chơn ngã của con người, Tự ngã sâu kín nhất của y, là Chơn nhơn hoạt động qua các hiện thể hoặc các lớp vỏ khác nhau, và như vậy biểu lộ tâm thức theo nhiều cách khác nhau. Chỉ có Tự ngã đang hoạt động và nếu ta muốn hiểu được cấu tạo của con người thì ta ắt phải ngộ ra được rằng Chơn ngã vốn ở nơi gốc rễ của mọi hoạt động, và những đặc trưng khác nhau của các hoạt động không tùy thuộc vào sự khác nhau của Tự ngã mà tùy thuộc vào sự khác nhau về môi trường hoặc những phẩm chất mà Tự ngã hoạt động thông qua đó. 

Ngay từ đầu, Chơn ngã đã có ý thức trên cõi của riêng mình. Vốn là dòng dõi của Tâm thức đại đồng Vũ trụ, nó làm sao có thể khác hơn thế được? Nhưng khi nó giáng xuống cái vũ trụ biểu lộ này và khoác lấy hết hiện thể này đến hiện thể khác, hết lớp vỏ này tới lớp vỏ khác thì có thể nói đôi mắt của Tự ngã đã bị mù quáng đi do những lớp màn che liên tiếp vây phủ xung quanh mình. Vì thế, khi Tự ngã đạt tới trình độ thấp nhất – tức vũ trụ vật lý mà ta đang ở trong đó – thì Tinh thần đã bị Vật chất làm mù quáng và không còn có ý thức về số phận cao siêu của chính mình hoặc bản chất cốt lõi của chính mình trong vũ trụ vật lý.

Thế mà ta biết rằng chính cái Tự ngã bị mù quáng này lại nhập vào vũ trụ biểu lộ để học hỏi và thu thập kinh nghiệm. Ta hãy nhất thời nghĩ tới nó đang khoác lấy những hiện thể mà vào lúc này ắt phải trở nên quen thuộc đối với các bạn: hiện thể để cho y suy nghĩ trong đó tức là cái trí hay tâm trí; hiện thể để cho y cảm xúc trong đó mà ta thường gọi là “thể dục vọng”, vì cảm xúc và dục vọng có liên quan rất mật thiết với nhau, những cảm xúc khoái lạc và đau khổ bắt nguồn từ việc tiếp xúc với các vật ngoại lai vốn tác động lên thể dục vọng và khiến cho thể dục vọng bị các ngoại vật ấy thu hút hoặc đẩy dội ra.

Thế thì ta hãy nhất thời nghĩ tới Tự ngã khoác lấy thể dục vọng và bị nó làm cho mù quáng không nhận ra được bản chất chân thực của chính mình và thân phận đích thực mà mình đang lâm vào cảnh ngộ ấy. Tự ngã bị đủ thứ ngoại vật thu hút; bị hấp dẫn bởi những thứ khiến cho nó có được cảm giác khoái lạc và dĩ nhiên bị đẩy dội lại bởi những thứ mà nó cảm thấy gây ra đau khổ cho mình. Vậy là khi đến với thế giới này – bạn phải nhớ rằng nó chẳng biết gì về thế giới này, vì tôi đang xét tới nó trong những giai đoạn trải nghiệm sơ khai nhất – nó ắt tự nhiên là bị thu hút mạnh mẽ về phía điều mang lại cho nó khoái lạc do tiếp xúc, khiến cho nó thấy rằng mình nhận ra được đâu là niềm vui hoặc hạnh phúc hay là hài lòng. Khi bị thu hút như thế về mọi thứ mà nó thấy là đáng ham muốn thì nó thường nhận ra rằng tiếp theo sau việc thỏa mãn ham muốn lại là đau khổ. Khi bị thu hút bởi cái đối tượng đáng mong muốn ấy mà lại thiếu kinh nghệm khiến cho mình có thể phân biệt, và phân biệt được thì có thể nói là nó cứ lao mình vào cái đối tượng hấp dẫn ấy, chỉ cần biết rằng mình cảm thấy khoái lạc trong sự tiếp xúc ấy. Thế rồi khi hết tiếp xúc – vốn mang lại khoái lạc – thì đau khổ mới dồn tích lại và do sự đau khổ ấy nó mới phát hiện ra rằng mình đã lao vào một thứ gì đấy chẳng có gì đáng mong muốn mà thật là ghê sợ. Và nó cứ có đi có lại cái trải nghiệm ấy; khi thường xuyên lập đi lập lại, nó ắt học thuộc bài học do vũ trụ ngoại giới dạy cho mình.

Ta hãy xét hai sự thèm khát rất bình thường đầy thú tính vốn bị hấp dẫn để thỏa mãn bằng khoái lạc rồi lại biến thành cội nguồn của đau khổ. Ta hãy xét ham muốn những thức ăn hấp dẫn vốn tác động lên vị giác là một phần của thể ham muốn; món ăn này sẽ thu hút vị giác và Tinh thần vô ý thức – vô ý thức ở đây nghĩa là trên cõi này nó không ý thức được những hậu quả nối tiếp sau đó - ắt sẽ lại phải chạy trốn do cái khoái lạc lúc tiếp xúc ấy; tôi có thể lập lại phép tỉ dụ xưa cũ của Đông phương mà tôi rất thường sử dụng, theo đó các giác quan giống như những con ngựa bị cột vào cổ xe là cơ thể, rồi chở Linh hồn giong ruổi đi tới các đối tượng ham muốn. Thế là y sẽ thỏa mãn vị giác đến mức quá trớn; y sẽ chuyển sang thói tham ăn. Kết quả của việc thỏa mãn vị giác mà thiếu kinh nghiệm ắt là đau khổ nối tiếp theo việc thỏa mãn quá trớn. Cũng như vậy, nếu y thỏa mãn vị giác, chẳng hạn như uống rượu quá nhiều. Lại có sự đau khổ nối tiếp việc thỏa mãn dục vọng ngay trước mắt. Và khi điều này đã được lập đi lập lại mãi thì Tinh thần – vốn theo chỗ mà cái trí có thể hiểu được – bèn liên kết những sự việc lại với nhau, nối liền việc thỏa mãn ham muốn với sự đau khổ tiếp theo việc thỏa mãn ấy, bằng cách này y dần dần đạt tới mức hiểu được rằng trong vũ trụ có những định luật liên quan tới thể xác của mình, và nếu y bước vào tiếp xúc với những định luật ấy mà lại ra sức vi phạm chúng, thì hậu quả là y ắt chịu đau khổ. Điều này dường như thể một người lao mình vào một bức vách vô hình rồi bị bầm dập do sự va chạm ấy. Cứ lập đi lập lại mãi thì khi người ta bị hấp dẫn bởi một vật hữu hình nào đấy ở phía bên kia hàng rào vô hình này mà hễ lao mình vào nó là cứ đúng như rằng bị bầm dập, thì y ắt học được việc liên kết hậu quả tiếp theo việc đeo đuổi đối tượng ấy là nỗi đau khổ mà mình cảm nhận được. Thế là trong tâm trí ý nổi lên cái ý niệm về trình tự, về nhân quả, về mối quan hệ tồn tại giữa việc thỏa mãn ham muốn và sự đau khổ nối tiếp; bằng cách này – khi việc học các bài học đã được cái trí ấu trĩ minh tâm khắc cốt – thì nó ắt thấy trên thế giới ắt có một điều gì đó còn mạnh hơn mình, đó là một Định luật mà nó không thể phá vỡ được; một Định luật mà nó có thể nỗ lực vi phạm nhưng không tài nào vi phạm nổi; Định luật ấy chứng tỏ sự tồn tại của mình qua nỗi đau khổ phải chuốc lấy khi Tinh thần húc đầu vào vách. Thế là bài học được học thuộc hết đối tượng ham muốn này sang đối tượng ham muốn khác cho đến khi việc tích tụ được cả đống kinh nghiệm, ắt dần dần giúp cho Tinh thần do đau khổ mà học được cách điều tiết ham muốn chứ không còn để cho con ngựa giác quan chạy lồng lên đi tới bất cứ nơi đâu mà chúng muốn; cần phải hàng phục chúng, kềm chế chúng và chỉ cho phép chúng chạy theo những con đường thật sự đáng mong muốn. Thế là bài học tự chủ ắt là thành quả của kinh nghiệm đau thương này.

Giờ đây ta có thể nói hoặc suy nghĩ rằng, xét cho cùng thì ta có cái thể dục vọng này chung với loài thú cấp thấp, thế mà bằng một cách kỳ diệu nào đấy loài thú cấp thấp lại khác với con người ở chỗ nó hầu như được dẫn dắt tránh việc trải nghiệm đau khổ bằng cái mà ta gọi là bản năng. Trong khi con người thường xuyên trải nghiệm đến khi mình học cách tự chủ thì con thú – do một trải nghiệm truyền thừa bẩm sinh thường được ta gọi là bản năng, lại được bảo vệ ít ra cũng là phần lớn thoát khỏi cái trải nghiệm đau khổ này. Sự thật là thế đấy. Khi quan sát thấy sự thật ấy ta đâm ra thắc mắc đối với lý trí. Chẳng biết lý do tại sao, nhưng lý do cũng đâu cần phải tìm kiếm ở chỗ xa xôi. Trước hết, có lẽ tôi nên phát biểu – để phòng ngừa khả năng hiểu lầm – rằng người ta trong một chừng mực nào đấy lại đẩy sức mạnh bản năng lên tới mức quá trớn so với loài thú cao cấp nhất. Nơi loài thú cấp thấp, qui tắc của bản năng được hoàn chỉnh mĩ mãn. Nơi loài thú cao cấp qui tắc ấy kém hoàn chỉnh hơn loài thú cấp thấp và chúng thường cần có một trải nghiệm nào đấy trước khi bản năng trở thành một người hướng dẫn tuyệt đối an toàn đối với chúng. Trong trường hợp của chúng thì lý do, và trong trường hợp của chính ta thì lý do còn sâu sắc hơn nữa, đó là: nơi con người, ta chẳng những có dính dáng tới cái thể dục vọng – mà nếu chỉ có mỗi một mình nó thôi, ắt được định luật ngoại giới dẫn dắt để hướng dẫn nó đi tới những đối tượng lành mạnh, mang lại sức khỏe, khiến cho nó tránh những đối tượng nguy hiểm hoặc gây chết chóc – nhưng nơi con người ta lại có sự tham gia của Linh hồn: Linh hồn là Tinh thần đã biệt lập ngã tính cho nên không bị thôi thúc bởi một Định luật ngoại lai nữa mà tiến hóa theo một Định luật xuất phát từ bên trong. Nó không chỉ bị cưỡng bách phải thuận theo Thiên nhiên ngoại giới, theo cái sự cưỡng chế mà các giới khoáng vật, thực vật và động vật phải cam chịu. Đây không còn là trường hợp tiến hóa theo một khối tập hợp, tiến hóa tập thể, mà để cho công việc diễn ra hữu hiệu thì cần phải được Định luật ngoại lai kiểm soát. Con người phải tự mình nắm giữ lấy cơ tiến hóa của chính mình; nó tiến hoá là do trải nghiệm chứ không phải do cưỡng chế; đó là vì vào giai đoạn này trong cơ tiến hóa, Tinh thần đã được biệt lập ngã tính bởi lớp vỏ tâm trí và kinh nghiệm tích lũy của Linh hồn đang luân hồi ắt thế chỗ cho sự giáo dục cưỡng bức trong các giới Thiên nhiên thấp.

Và thế là sự hiện diện của manas, tức cái trí nơi con người đã khiến cho yếu tố đau khổ này là một bộ phận cần thiết xiết bao cho công trình giáo dục con người. Y có thể nhớ lại, y có thể so sánh đối chiếu, y có thể rút ra mối quan hệ giữa những sự vật tạo thành chuỗi diễn biến; và chính vì y có quyền năng tư tưởng, tâm trí, cho nên y có thể nắm giữ sự tăng trưởng của chính mình bằng bàn tay của chính mình, và có thể trở thành một người hoạt động hợp tác với Thiên nhiên; y chẳng những có thể nói là một viên gạch trong cái tòa dinh thự thiên nhiên mà còn là một người xây dựng hữu ngã thức, tham dự vào công trình xây dựng tổng thể ấy.

Thế là dần dần do đau khổ giáo dục tác động lên cái trí thông qua thể dục vọng, tri thức về Định luật nơi vũ trụ ngoại giới tăng trưởng dần đến nỗi mà ở đây ý nghĩa của đau khổ - khi tiếp xúc với Định luật một cách đầy hiềm khích, cố gắng phá vỡ Định luật mà chẳng bao giờ thành công được thì việc sử dụng đau khổ chính là để có được tri thức về Định luật; thế là trí tuệ biết lý luận bèn hướng dẫn và giáo dục bản chất thấp hèn.

Ta cũng chuyển từ quan điểm đau khổ này sang quan điểm đau khổ khác. Nhờ đau khổ, Linh hồn đang tăng trưởng đã học được về sự tồn tại của Thiên luật.

Công dụng kế tiếp của đau khổ ắt được phát hiện một cách thâm thúy hơn. Nhờ đau khổ ta mới nhổ bật tận rễ cái ham muốn đối với mọi sự vật nơi vũ trụ ngoại giới mà theo ngôn ngữ của Chí Tôn Ca té ra là một trong “những cái nôi của đau khổ”. Ham muốn là điều thu hút Linh hồn tái sinh, ham muốn là điều căn bản gây ra sự biểu lộ của vũ trụ. Chính khi “Ham muốn lần đầu tiên xuất hiện trong lòng cõi Vĩnh hằng” thì mầm mống của vũ trụ biểu lộ mới xuất hiện ra được; và thế là luôn luôn chính ham muốn đã gây ra sự biểu lộ cho dù đó là biểu lộ của tổng thể hay bộ phận, thì ham muốn vẫn liên tục thu hút Linh hồn trở đi trở lại nhập thế. Ta hãy để ý rằng chính ham muốn đã thu hút Linh hồn hướng ngoại, luôn luôn hướng ngoại về ngoại giới. Và việc giáo dục Linh hồn cốt ở việc thoát ra khỏi để nhập vào ngoại giới, thu thập mọi tri thức nơi ngoại giới, thế rồi do trải nghiệm mất đi thị hiếu về ngoại giới rồi mang vào bên trong cái tri thức mà mình thu hoạch được. Nhưng giả định rằng các đối tượng của ham muốn vẫn còn đáng ham muốn, thế thì vòng sinh tử luân hồi ắt không chấm dứt được, lúc bấy giờ có thể nói là không thể thu lượm được trí thức và không thật sự tiến hóa được tới những khả năng cao nhất. Đó là vì nên nhớ rằng sự toàn bích của con người không phải là cứu cánh cho ta tăng trưởng; đó chỉ là cứu cánh cho chu kỳ hiện nay, nhưng chỉ là việc chuẩn bị cho một chu kỳ khác; và những đấng trở thành con người toàn bích trong chu kỳ hiện nay là những đấng xuất phát từ Niết Bàn tịch tịnh, vắng lặng, để rồi xuất hiện trong chu kỳ biểu lộ kế tiếp, không còn với tư cách là những kẻ cần được giáo dục mà trên cương vị là những đấng Kiến tạo và Thần linh dẫn dắt vũ trụ biểu lộ kế tiếp, chuyển sang cái địa hạt hoạt động cao siêu hơn rồi vận dụng ở đó những trải nghiệm mà mình đã hoạch đắc được ở đây. Như vậy điều cốt lõi là những Linh hồn nào hiện nay đang biểu lộ thành con người, nhưng trong các thiên niên kỷ tương lai phải trở nên thiêng liêng thì họ chẳng cần thu thập trí thức mà còn mang nó theo để biến nó thành một bộ phận trong bản thể tương lai của chính mình; để có thể thực hiện được điều này thì ham muốn ắt phải dần dần bị biến chất cho đến lúc cuối cùng nó biến mất. Các đối tượng của ngoại giới thấp nhất phải trở nên không đáng mong muốn đối với Linh hồn đã thu thập được tri thức. Các đối tượng của mỗi giai kỳ ngoại giới dù là tinh vi hay thuộc về cõi trần đều phải trở nên không đáng mong muốn; mọi thứ phải trở nên không đáng mong muốn ngoại trừ cái Vĩnh hằng vốn là tinh túy của chính Linh hồn. Thế là dần dần nhờ đau khổ trong vũ trụ thể chất mà Linh hồn học cách diệt dục.

Không còn cách nào khác để chinh phục dục vọng. Nếu trong việc thỏa mãn những ham muốn ngoại lai mà không có đau khổ thì bạn ắt dùng ý chí mạnh mẽ kềm những con ngựa lại, ngăn không cho chúng chạy lồng lên theo con đường mà mình không chọn lựa cho chúng đi trên đó. Nhưng bạn muốn nhiều hơn mức chỉ dùng sức mạnh để kềm chế chúng lại, đó chỉ là một giai đoạn rất sơ cấp trong sự tiến hóa của Linh hồn; bạn muốn chúng không còn ham chạy lồng lên theo những đối tượng nữa, nghĩa là bạn muốn cắt đứt chính cái gốc rễ của ham muốn và ta chỉ có thể làm được như vậy khi những đối tượng đã từng một thời hấp dẫn lại mất đi khả năng hấp dẫn đó; sao cho chúng không còn có thể thu hút Linh hồn hướng ngoại nữa. Lúc bấy giờ vì đã cạn hết mọi thứ mà mình có thể học được từ đối tượng và phát hiện rằng rốt cuộc nó chỉ tạo ra đau khổ thì Linh hồn không còn thấy nó đáng ham muốn nữa mà dẹp nó qua một bên, chỉ mang theo cái tri thức mà mình thu hoạch được. Đó là vì Linh hồn giống như con ong quanh quẩn bên đóa hoa; nó chẳng cần cứ luôn luôn ở với đóa hoa mà chỉ cần mật do đóa hoa chứa đựng; khi nó đã hút hết mật thì nó thấy đóa hoa không còn đáng mong muốn nữa. Và khi Linh hồn đã hút hết mật tri thức từ đóa hoa trần thế thì chính cái công dụng đau khổ khiến cho Linh hồn không còn cảm thấy ham muốn đóa hoa nữa, nó đã thu thập được từ đó mọi thứ cần thiết cho bài học cần học, sự đau khổ đã diệt được dục vọng, khiến cho Linh hồn bị quẳng lại hướng nội, quay về với chính mình. Nếu trong lúc nhàn rỗi mà bạn cứ suy gẫm về điều này thì tôi thiết tưởng bạn ắt chẳng thể nào phát minh ra được bất kỳ cách nào khác để diệt dục. Và nếu bạn chưa thể dẹp đi cái ham muốn đối với những sự vật của cõi hồng trần, thì bạn ắt chẳng bao giờ cảm nhận được cái sự thu hút trong nội tâm, trước hết hướng về những sự vật của tâm trí, nhiên hậu hướng về những sự vật của Sinh hoạt Cao siêu; đó mới chính là mục đích của việc Linh hồn tiến hóa để có được trải nghiệm về mọi thứ phải sinh ra trong thế giới này. Nhưng đau khổ còn có công dụng gì nữa? Chúng ta đã tìm ra hai công dụng: học hỏi về Thiên luật và dần dần diệt dục. Bài học kế tiếp mà chúng ta học được qua đau khổ là bản chất phù du của tất cả những gì không thuộc bản thể của chính Tinh thần. Nơi một trong nhiều kinh điển Ấn giáo, ta có thể đọc thấy cách thức mà Thần chết khi quan sát loài người và phiền muộn theo các phiền não của họ cũng phải khóc trước thân phận Con người. Và khi nước mắt của Diêm vương nhỏ xuống trần gian thì chúng biến thành bệnh tật và những nỗi khốn khổ gây tai ương cho loài người. Tại sao lòng trắc ẩn của Thần linh lại biến thành các tai họa để hành hạ con người? Những ẩn dụ này bao giờ cũng đáng được suy gẫm, bởi vì luôn luôn bên dưới bức màn che ẩn dụ có ẩn tàng một sự thật nào đấy đạt tới bạn một cách vững chắc nhất bởi vì chính cái tỉ dụ che khuất nó. Thần chết là gì? Có thể nói Thần chết là hiện thân của vô thường. Đôi khi ta nghe nói Diêm vương là đấng Hủy diệt; từ ngữ đúng hơn là đấng Tái sinh, bởi vì trong vũ trụ biểu lộ chẳng có điều gì giống như là hủy diệt. Bao giờ cũng thế, điều xét về mặt này là chết thì xét về mặt kia là sinh ra; và điều vốn là sự vô thường dường như hủy diệt thì xét theo một khía cạnh khác lại cung cấp hình tướng mới và hình dạng mới cho sự sống đang mưu cầu sự hiện thân. Thế là Diêm vương, Thần chết là đại biểu vĩ đại của sự vô thường: vô thường đánh dấu sự biểu lộ, vô thường vốn ở trong mọi thứ, ngoại trừ trong chính đấng Vĩnh hằng; và vì đấng vốn là vô thường khi hiện thể mà khóc thương cho loài người thì tự nhiên là những giọt nước mắt của Thần chết ắt phải là những điều dạy cho người ta bản chất phù du của tất cả những gì xung quanh mình. Và những khốn khổ, bệnh tật mà nước mắt của Thần chết biến thành chính là những bài học dưới dạng đau khổ mang lại giáo huấn hữu ích nhất cho mọi người; đó là không điều gì phù du có thể thỏa mãn được Linh hồn và chỉ bằng cách học bản chất phù du của sinh hoạt hạ giới thì Linh hồn mới quay sang cái điều trong đó có sự thỏa mãn và hạnh phúc chân chính. Vậy là giáo huấn về tính phù du của vạn vật chính là đối tượng của những giọt nước mắt này của Diêm vương, và Diêm vương bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc nhất qua những bài học mà y mang tới cho nhân loại bằng đau khổ. Đó là vì chỉ bằng cách này, bằng bệnh tật và khốn khổ, bằng nghèo túng và phiền não, chúng ta mới học biết rằng vạn vật xung quanh mình chẳng những nơi thế giới vật lý mà còn nơi cõi dục vọng và nơi cõi tâm trí nữa – tất cả những thứ ấy đều vô thường và kẻ nào vốn thường trụ ắt chẳng bao giờ có thể an dưỡng nơi cái vô thường. Đó là vì trong thâm tâm thì chúng ta là đấng Vĩnh hằng chứ không phải là vô thường; trung tâm sinh hoạt của ta, chính Tự ngã bên trong ta vốn bất tử và vĩnh hằng, nó chẳng bao giờ có thể biến đổi hoặc chết được. Vì vậy không một điều gì vô thường lại có thể làm nó thỏa mãn; không một điều gì mà Thần chết chi phối lại có thể mang đến cho nó sự an bình và hạnh phúc tối hậu. Nhưng chúng ta phải học được bài học này nhờ vào đau khổ và chỉ khi học được như vậy thì ta mới có thể có niềm vui tối hậu. Vậy là Linh hồn cũng học được sự khác nhau giữa các giai đoạn vô thường; những bài học này phải học rất chậm và phải tốn mất nhiều kiếp mới hoàn tất được khóa học. Thoạt tiên, Linh hồn ắt không nghĩ tới đấng Vĩnh hằng vốn là điều mà mình phải an dưỡng nơi đó; nhưng nó sẽ học cách xoay chuyển từ cõi trần lên cõi trí, chuyển từ phần giác quan sang phần trí năng bởi vì cái này tương đối thường tồn hơn cái kia, và các hạnh phúc của tâm trí vốn lâu bền khi so sánh với những khoái lạc của cơ thể. Và trong lộ trình tiến hóa chậm chạp ấy thì người ta học được bài học này rất lâu trước khi đụng tới bài học về Tinh thần, và con người trở thảnh một tạo vật cao cấp khi nó học cách chế ngự được thú tính và tìm được sự thỏa mãn nơi tâm trí và trí tuệ, sao cho những khoái lạc của năng khiếu thẩm mỹ khống chế được khoái lạc của cơ thể; những khoái lạc của tâm trí và trí năng, trí tuệ hấp dẫn hơn các khoái lạc của những giác quan hạ đẳng.

Thế là con người dần dần tiến hóa đến tận ngày nay, công trình tiến hóa vĩ đại của cơ tiến hóa nhân loại hiện giờ - chỉ nói tới cơ tiến hóa của nhân loại trung bình - không phải là tiến hóa Tinh thần mà là tiến hóa của bộ phần tương đối thường tồn so với các giác quan và cơ thể mà ý thức tỉnh táo của con người vẫn còn đang hoạt động trong đó. Điều này nghĩa là kẻ phàm phu cần làm việc xoay chuyển những ham muốn từ cái phù du sang cái tương đối thường tồn, và tốt hơn là nên trau dồi tâm trí, trí tuệ và khía cạnh nghệ thuật của Thiên nhiên, thay vì mưu cầu việc thỏa mãn các giác quan mà mình có chung với các dạng sự sống động vật thấp hơn. Những đấng nào đang giúp cho cơ tiến hóa nhân loại đều bỏ qua sinh hoạt của thể xác và đang rèn luyện mình theo sinh hoạt của tâm trí, họ đang mưu cầu điều tương đối thường tồn; mặc dù đến lượt thì điều này cũng tỏ ra là phù du, thế nhưng nó vẫn là một bước tiến thu hút ham muốn từ thể xác lên tới tâm trí, từ các giác quan lên tới cơ quan nội tại, từ các cảm giác lên tới các ý tưởng và ảnh tượng; và đó là một phần trong trải nghiệm của Linh hồn đang thu hút, tách mình ra khỏi các giác quan rồi định cư trong một thời gian nơi các cơ quan nội tại là tâm trí. Thế rồi các cơ quan nội tại ấy cũng tỏ ra chỉ sản sinh những sự việc phù du. Thế nhưng, ta thấy đã hoạch đắc được lợi ích lớn xiết bao; vì sự xung đột giữa nhân quần là khi ham muốn chuyển sang trí tuệ, cơ quan nội giới, thay vì là những sự vật bên ngoài thuộc giác quan. Những sự vật thuộc giác quan vốn giới hạn, và con người chiến đấu chống lại với nhau để tranh giành phần chia với một số lượng giới hạn. Và giữa nhần quần không có sự xung đột về chúng; bởi vì không ai nghèo đi khi huynh đệ của mình giàu lên do có năng khiếu về nghệ thuật hoặc trí thức; không ai có phần chia của mình giảm bớt đi bởi vì phần chia của huynh đệ mình lớn hơn. Và thế là nhân loại tiến từ việc cạnh tranh sang việc hợp tác để học được bài học về Tình Huynh Đệ; ta càng phong phú hơn về trí năng thì càng có thể ban ra và càng ít cần phải gây hiềm khích xét vì ta đang tiến lên tới Sự Sống Cao Siêu khi mọi thứ đều ban phát ra và chẳng ai muốn chụp giựt cho bản ngã của mình. Đó là vì trong cái vùng trung gian trí năng, thị hiếu cao cấp và xúc động này không cần phải bo bo giữ lấy mà tất cả đều có thể chia xẻ điều mà mình có, và sau khi chia xẻ thấy mình phong phú hơn chứ không nghèo nàn hơn vì việc ban ra.

Nhưng ngay cả lúc bấy giờ thì ta cũng phát hiện sự thỏa mãn không ở nơi hướng đó vì nó vẫn mang bản chất ham muốn. Tôi xin dừng lại một lúc ở vấn đề này. Toàn bộ phương hướng sinh hoạt của bạn ắt tùy thuộc vào việc ngộ ra cái nguyên lý giờ đây tôi sắp trình bày với bạn. Nếu bạn mưu tìm việc thỏa mãn ham muốn thì bạn ắt chẳng bao giờ tìm thấy được hạnh phúc, bởi vì mọi ham muốn được thỏa mãn đều sinh ra một ham muốn mới và bạn càng thỏa mãn ham muốn bao nhiêu thì càng có nhiều cái miệng há hốc ra đòi hỏi bạn lấp đầy nó bấy nhiêu.

Một kinh điển cổ truyền có nói:

“Cũng giống như việc đổ dầu vào lửa không dập tắt được lửa; cũng vậy muốn diệt dục không thể cung cấp cho nó những mục tiêu ham muốn khác”.

Câu nói trên rất đáng để cho bạn cân nhắc suy tư lâu dài. Đó là vì nếu hạnh phúc không ở nơi đường lối ấy thì đại đa số mọi người nhất là ở những xứ văn minh đều đang đi sai đường để theo đuổi hạnh phúc; họ sẽ chẳng bao giờ đạt được tới nó theo con đường mà họ đi trên đó. Và nếu bạn để ý thấy yêu cầu của sinh hoạt hiện đại thì luôn luôn là có thêm những cái sự vật mà người ta đã sở hữu rồi, nghĩa là nhân bội lên những đối tượng ham muốn, thế là tiếp tục gia tăng những điều khao khát vốn không thể thỏa mãn được. Tôi có thể trình bày nó dưới một dạng khá thô thiển xuất hiện trong tâm trí mình, bởi vì một ngày giờ nào đó nó có thể được trích dẫn là một minh họa của phương thức để cho sự hẹp hòi của tư tưởng gây ra cái ý niệm cùng một sinh vật càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn nữa. Bạn hẳn nhớ câu chuyện kẻ nhà quê được hỏi điều gì ắt làm y hạnh phúc hoàn toàn thì y đáp: “Ngồi đong đưa ở nơi cổng, suốt ngày nhai nhồm nhoàm thịt đùi mỡ”. Thế rồi người ta lại hỏi y: “Giả sử bạn có thể có một điều gì đó nhiều hơn mức khiến cho bạn hạnh phúc thì bạn mơ ước điều gì?” Y lại đáp: “Ngồi đong đưa nơi cổng nhiều hơn nữa và nhai nhồm nhoàm nhiều thịt đùi mỡ hơn nữa”. Thế mà đó là cái cách thức thô thiển để trình bày vấn đề; nhưng đây cốt lõi là lời giải đáp mà đa số mọi người thực hiện. Cứ cho họ có một ham muốn cao siêu hơn việc ngồi đong đưa nơi cổng nhai nhồm nhoàm thịt đùi mỡ; nhưng nguyên tắc ham muốn của họ cũng giống hệt như nguyên tắc của kẻ nhà quê, nghĩa là họ muốn có nhiều hơn những thứ mà họ đã sở hữu rồi, và họ không ngộ ra được rằng hạnh phúc không ở nơi việc gia tăng thỏa mãn ham muốn mà ở nơi việc chuyển hóa ham muốn về sự phù du thành ra hoài bão về sự Vĩnh hằng, và việc hoàn toàn biến đổi bản chất từ chỗ mưu cầu hưởng thụ sang chỗ mưu cầu ban ra. Và nếu điều này là đúng thì trong khi mưu cầu hạnh phúc tốt hơn, ta nên xét xem ta nên đi theo con đường nào. Đó là vì nếu ta đang đi theo con đường thỏa mãn ham muốn thì cho dù ta có làm cho nó tinh vi đến đâu đi chăng nữa thì ta cũng đang bước trên con đường hầu như là một vòng tròn vô tận, và điều đó bao giờ cũng khiến cho ta bất mãn chứ chẳng bao giờ mang lại cho ta niềm cực lạc vốn là mục đích tự nhiên của Tinh thần nơi con người.

Vậy là sau một thời gian do không được thỏa mãn, nghĩa là đau khổ, Linh hồn mới ngộ ra được rằng đó đâu phải là con đường và đâm ra mệt mỏi với sự vô thường. Mọi đối tượng ngoại lai thuộc thân xác và tâm trí mất đi sự hấp dẫn; mệt mỏi trước sự vô thường mà mình tìm thấy ở bất cứ nơi đâu trong hạ giới, Linh hồn không còn hướng ngoại nữa mà xoay chuyển mặt vào bên trong và bên trên. Nó đi ra ngoài tới tận các giác quan và đã thất bại; thế rồi nó rút vào tâm trí nhưng theo quan điểm của Tinh thần thì cái trí vẫn hướng ngoại cho nên nó lại thất bại nữa; nó luôn luôn bị đau khổ đánh bật lại, luôn luôn bị thất bại đánh bật lại, đó mới là nỗi đau khổ gây chán nản nhất. Thế rồi cuối cùng, nó học được bài học và chuyển ra khỏi cái ở bên ngoài, nó hướng nội để rồi bắt đầu tìm thấy sự yên bình, bước đầu tiếp xúc với thực tại, thỏa mãn được điều cốt yếu.

Còn một công dụng nữa của đau khổ, giờ đây là một bài học mang tính nội tâm hơn bởi vì ta đã đạt tới mức mà Linh hồn phân biệt được mình với thể dục vọng và ngay cả với tâm trí nữa. Thế nhưng nó chưa lọt ra khỏi tầm ảnh hưởng của đau khổ bởi vì nó chưa hoàn toàn tìm được tâm điểm của chính mình, nó vẫn còn đang tìm kiếm cái gì tịch lặng; và mặc dù nó biết mình không phải là cơ thể, không phải là giác quan, không phải là tâm trí, nhưng nó vẫn thấy mình thụ cảm với đau khổ xuất phát từ bên trong, mẫn cảm với những chuyển dịch thành đau khổ. Và khi bước vào tiếp xúc với những người khác – với những xúc cảm, tư tưởng và phán đoán của những người khác – nó thường xuyên thấy mình đau khổ do bị phán đoán sai lầm, chuyển dịch sai lầm bởi những tư tưởng và xúc cảm không tử tế; và nếu đến lúc này Linh hồn đã có được Minh triết – nó ắt phải có minh triết nếu nó đi theo con đường mà chúng ta đã dõi theo – thì nó ắt bắt đầu thắc mắc: Tại sao tôi vẫn còn cảm thấy đau khổ? Có cái gì không ở bên ngoài mà ở ngay chính tôi đã gây ra sự đau khổ ấy. Đó là vì giờ đây nó đã vượt quá mức vô minh cho rằng ngoại vật dường như là tác nhân gây đau khổ, rồi nó liên hệ với bản thân, cái yếu tố gây đau khổ để ngộ ra rằng ngoài chính nó thì không thứ gì đụng chạm tới nó được; thật ra nó chịu trách nhiệm về mọi thứ. Và nếu nó cảm thấy đau khổ thì nguyên nhân của đau khổ ắt ở nơi chính nó, chứ xét cho cùng không ở nơi ngoại vật; đó là vì nếu Linh hồn đã toàn bích rồi thì không điều gì ngoại lai có thể tìm được cơ hội gây đau khổ cho nó, và nếu nó cảm thấy đau khổ thì đó là dấu hiệu của sự không toàn bích, nghĩa là nó chưa hoàn toàn triệt thoái khỏi bản chất thấp hèn vốn không phải là chính nó. Thế rồi nó bắt đầu vận dụng đau khổ thay vì chỉ cảm thấy đau khổ, và giữa đôi bên có sự phân biệt. Nó không còn bị đau khổ khống chế mà túm lấy đau khổ dùng làm công cụ phục vụ cho mục đích của riêng mình; khi nó thấy đau khổ - là bảo điều này bắt nguồn từ hoạt động không tử tế hoặc phán đoán sai lầm về động cơ thúc đẩy hoặc cách ứng xử - thì Linh hồn túm lấy đau khổ như một nhà điêu khắc cầm con dao đục đẽo và dùng dụng cụ đau khổ này đâm vào phàm ngã của chính mình. Đó là vì Linh hồn biết rằng nếu phàm ngã mà không ích kỷ thì nó ắt chẳng cảm thấy đau khổ gì hết, và nó có thể dùng đau khổ làm một con dao đục đẽo để gọt dũa nhược điểm này của phàm ngã; do đó vẫn cứ thanh thản như như bất động giữa những mâu thuẫn của thế gian.

Đó là vì đối với những bậc nào đã vượt lên trên phàm ngã, những Linh hồn cao cả và giải thoát mà chúng ta gọi là Chơn sư, các ngài luôn luôn làm việc cho thế gian, bất kể thế gian phán đoán sai lệch về mình đến đâu đi chăng nữa. Một trong các Chơn sư có bảo rằng: “Chúng ta cảm thấy sự nói xấu và chỉ trích của nhân loại cũng giống hệt như đỉnh Hi mã lạp sơn cao vòi vọi cảm thấy con rắn phun phì phì quanh chân núi”. Không phàm ngã nào bị tổn thương bởi sự phán đoán lệch lạc, không có phàm ngã nào bị sự xuyên tạc gây đau khổ. Các ngài ban phước và kẻ được ban phước chẳng biết phước ấy từ đâu mà ra; trong khi vô minh người ta chế nhạo hoặc khinh bỉ, hoặc buộc tội các Chơn sư mà chẳng biết các ngài là ai, rồi còn suy bụng ta ra bụng người. Liệu các ngài có bị tổn thương chăng? Không đâu, các ngài đáp lại sự xuyên tạc bằng lòng thương xót, các ngài đáp lại sự sỉ nhục bằng sự tha thứ bởi vì nơi các ngài chẳng có điều gì bị xuyên tạc làm tổn thương được; các ngài chỉ có thể cảm thấy thương xót cho kẻ nào thật mù quáng không thấy đường, thương xót cho người anh em mù lòa do suy nghĩ lệch lạc mà gây phương hại tới Linh hồn của chính mình. Mặt trăng không bị tổn hại bởi bất cứ kẻ nào ném bùn lên nó, bùn ắt sẽ rơi xuống kẻ ném bùn làm vấy lên bộ quần áo của y; ánh sáng mặt trăng vẫn còn trong lành không bị bùn đất gây ô uế. Và thế là khi Linh hồn tăng trưởng hướng về ánh sáng thì nó dùng đau khổ làm một công cụ để tiêu diệt phàm ngã và những chuyện tinh vi thuộc phàm ngã, mà ngay cả một Linh hồn dũng mãnh cũng có thể không thấy được. Linh hồn coi đau khổ là cái thông điệp từ bi nhất để cho mình biết nhược điểm của chính mình, lỗi lầm của chính mình và sai sót của chính mình. Đó là vì khi ta tăng trưởng về kiến thức thì ta ắt ngộ ra được rằng kẻ thù tồi tệ nhất của mình không phải là lỗi lầm bên ngoài ta có thể nhận ra được, mà là sự mù quáng bên trong vốn không thấy được chỗ nào là nguy hiểm và cũng chẳng biết là mình đang mù lòa. Khi sa đọa bạn hãy biết mình đang sa đọa thì nguy cơ ấy nhỏ nhoi thôi, chỉ khi bạn sa đọa mà chẳng biết mình đang sa đọa thì kẻ thù của Linh hồn mới hân hoan reo mừng. Và nếu sự sa đọa ấy có gây ra đau khổ thì nỗi đau khổ ấy thật đáng hoan nghênh bởi vì việc ấy nói lên được điều nguy hiểm và giúp cho ta sáng mắt sáng lòng về cái sự sơ suất mà ta đã thực hiện. Bằng cách đó, đau khổ theo như tôi nói không còn là tai ương nữa, nó được hoan nghênh là những lời cảnh báo và là một công cụ để cho Linh hồn có thể vận dụng được; giờ đây nó là con dao của y sĩ giải phẫu cắt bỏ đi chỗ nào gây nguy hiểm; cho nên nó không còn bị chống cự coi là kẻ thù, mà được hoan nghênh coi là bằng hữu.

Thế nhưng đau khổ còn có một công dụng khác nữa mà giờ đây do Linh hồn đã giải thoát tự nguyện chọn lựa; Linh hồn muốn được dũng mãnh không phải để tự mình đứng vững mà để trợ giúp thế gian, Linh hồn ấy đã ngộ ra rằng mình phải sống vì người khác và biết rằng mình chỉ có thể học được cách sống vì người khác nhờ đã tự lực cánh sinh. Lúc bấy giờ nó sẽ tự nguyện chọn đau khổ bởi vì chỉ có như vậy nó mới học được tính nhẫn nhục; nó ắt chọn lựa đau khổ bởi vì chỉ có như vậy thì nó mới học được tính kiên nhẫn. Những kẻ nào chưa bao giờ đau khổ ắt luôn luôn vẫn còn yếu đuối, và chỉ trong trận chiến đấu căng thẳng ác liệt thì Linh hồn mới học được tính nhẫn nhục, mặc dù nên nhớ rằng chiến đấu vẫn còn là một dấu hiệu yếu đuối. Nếu chúng ta thật mạnh thì chúng ta ắt chẳng cần chiến đấu, nhưng ta chỉ có thể đạt được sức mạnh mà không cần phải chiến đấu qua sự ác liệt của chiến đấu, bởi vì lúc bấy giờ sức mạnh mới dần dần thấm vào Linh hồn và điều đã từng là lo lắng và phấn đấu ắt trở thành thanh thản, bình tĩnh khi ta có sức mạnh toàn bích.

Và còn một điều khác nữa mà Linh hồn đã chọn phải đau khổ, đó là ‘nó có thể học được sự đồng cảm’. Ấy là vì ngay cả Linh hồn dũng mãnh cũng ắt trở nên vô dụng nếu nó không học được sự đồng cảm. Không đâu, Linh hồn dũng mãnh cũng có thể khá nguy hiểm hơn bất cứ thứ nào khác nếu nó đã trở nên dũng mãnh mà không có lòng từ bi vì nó đã học cách thu hút sức bình sinh lại trong khi chưa học cách hướng dẫn sức bình sinh ấy đi cho đúng hướng. Đó là vì sức mạnh vốn chỉ đầy bạo lực thôi mà không có lòng từ bi thì có thể là chà đạp thay vì cứu độ mọi thứ mà nó có thể đã làm tan nát, có thể nói tâm hồn của Linh hồn sẵn lòng vươn lên. Sức mạnh mà không được điểm xuyết bằng sự đồng cảm vốn sắc sảo hơn mọi tầm nhìn và chính là trực giác của Tinh thần thì sức mạnh ấy có thể được dùng cho ác ý chứ không để trợ giúp. Nó có thể gây phương hại ở bất cứ nơi đâu mà nó muốn trợ giúp và có thể đè bẹp ở bất cứ nơi đâu mà nó muốn cứu độ. Và thế là nó càng mạnh bao nhiêu thì Linh hồn càng hăng hái bấy nhiêu nhằm mưu cầu bài học đau khổ này để cho nhờ vào xúc cảm, nó có thể học cách cảm nhận, và nhờ đau khổ của bản thân, nó có thể học cách chữa lành những đau khổ của thế gian; bằng không thì ta chẳng thể học được gì. Chúng ta phải được kiến tạo từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài và mọi đau khổ mà ta có do bất toàn có thể nói là những viên đá mà ta dùng để cuối cùng xây dựng nên đền thờ Tinh thần toàn bích. Rốt cuộc trong cứu cánh ắt không có đau khổ, nhưng khi xây dựng ắt phải có đau khổ; vì vậy người Đệ tử chọn Con Đường Khốn Khó, bởi vì chỉ nhờ vào khốn khó học được lòng từ bi và chỉ khi y xao xuyến với mọi sự tiếp xúc từ vũ trụ ngoại lai thì y mới có thể ở tâm của vũ trụ ấy, có thể phóng ra những sự xao xuyến đáp ứng bằng cách chữa trị, nó sẽ đi xuyên suốt qua mọi sự sống biểu lộ và mang theo mình thông điệp về sự hữu ích và sức mạnh.

Vậy là ta có nhiều công dụng của đau khổ, mặc dù ta có thể tìm được nhiều công dụng khác nữa. Và cho dẫu tôi chỉ rút ra một vài thí dụ hiển nhiên và đơn giản, thế nhưng khi nói ra thì chúng cũng hữu ích. Nhưng cứu cánh là gì mới đươc chứ? Phải chăng đó là số phận tối hậu của Linh hồn? Phải chăng đau khổ chẳng còn công dụng nào khác nữa? Phải chăng đau khổ là bầu hào quang tự nhiên của Tinh thần? Kẻ nào tin rằng phiền não là cứu cánh của vạn vật thì kẻ đó ắt sai lầm. Kẻ nào tin rằng đau khổ và phiền muộn quả thật là bầu hào quang mà Tinh thần sinh hoạt trong đó thì họ cũng sai lầm. Tinh thần là cực lạc chứ đâu phải là phiền muộn; Tinh thần là niềm vui chứ đâu phải là đau khổ; Tinh thần là an bình chứ đâu phải là đấu tranh; bản chất cốt lõi của vạn vật là tình thương, là niềm hoan hỉ, là an bình; con đường đau khổ chỉ là con đường chứ không phải là mục tiêu, Con đường Khốn khó chỉ là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Đó là vì từ cái Đại dương Chí phước, nơi phát nguyên ra vũ trụ, tình thương và an bình và niềm hoan hỉ không ngừng tuôn ra, đó chính là di sản của Tinh thần vô hiện. Đau khổ vốn ở nơi những lớp vỏ mà Tinh thần khoác lấy chứ không ở nơi bản chất cốt lõi của Tinh thần.


Trong khi phấn đấu sinh hoạt, bạn đừng bao giờ quên điều đó! Đừng bao giờ để cho sự đau khổ mù quáng đi trước niềm vui, đừng để cho những nỗi lo âu thoáng qua khiến cho bạn không ý thức được niềm cực lạc vốn là bản thể cốt lõi của Tự tại. Đau khổ chỉ là phù du còn cực lạc lại vĩnh hằng; bởi vì cực lạc là bản thể nội tại của Brahman, Tự ngã của vạn vật. Do đó khi Tinh thần tiến bước, khi Tinh thần trở nên tự do hơn thì an bình thế chỗ cho đấu tranh, và niềm hoan hỉ thế chỗ cho sự đau khổ. Ta hãy ngước nhìn lên gương mặt cao nhất: quả thật có dấu vết của đau khổ, nhưng đau khổ ấy đã qua rồi và đã được chuyển hóa thành sức mạnh, thành sự đồng cảm và lòng từ bi; đó là một niềm vui sâu sắc vô tận. Đó là vì lời cuối cùng của vạn vật là Cực lạc; thành quả tối hậu của Nhân loại là an dưỡng, an dưỡng một cách hữu thức trong hạnh phúc. Và mọi thông điệp của đau khổ chỉ là để cho Tinh thần có thể được giải thoát; cứu cánh là cứu cánh an bình và khía cạnh biểu hiện của an bình là hoan hỉ.

THIÊN NHÂN HỢP NHẤT


Hiệp Thiên Đài là tên gọi tắt của chuỗi chữ Hiệp Nhứt Thiên Nhơn hay Thiên Nhân Hợp Nhất. Vì lẽ đó, Hiệp Thiên Đài tại Đền Thánh trên bức bích họa Tam Thánh có nêu bốn chữ "Thiên Thượng Thiên Hạ" (Dieu et Humanité) tức Đệ Tam Hòa Ước ký giữa Trời và Người hiệp nhứt qua trung gian cơ bút.
"Thiên Nhơn Hiệp Nhứt" hay "Vạn vật đồng nhất thể" là quan niệm đã có từ ngàn xưa trong triết học Đông Phương. Trình Hiệu khẳng định : "Thiên Nhơn vốn hiệp nhất rồi, bất tất phải nói hợp". (Thiên Nhơn bản hợp nhất, bất tất ngôn hợp). Bởi lẽ đó, Trần Thuần viết : "Thái Cực chỉ là nói cái lý bao gồm tất cả Trời, Đất, vạn vật". (Thái Cực chỉ thị tổng Thiên, Địa, vạn vật chi lý nhi ngôn - Bắc Khê Ngữ Lục).
Theo Đức Khổng Tử, muốn "Trời Người hiệp nhứt" thì loài người phải "quay về với Đạo" (phản phục Kỳ Đạo) theo nếp sống Trung Dung và Đạo Thời Trung. Đức Lão Tử cũng dạy "quay trở về gốc" (Phục qui kỳ căn). Đạo Phật thì tu luyện "Phản bổn hườn nguyên". 
Nếu chiếu tự hai chữ Thiên Nhơn thì chữ Thiên ( ) do chữ Nhị ( ) và chữ Nhơn ( ) hợp lại, cho ta thấy Nhơn luôn luôn gắn liền với Thiên và Thiên luôn hàm chứa Nhơn để tạo nên sự sống cho vũ trụ. Riêng chữ Thiên là nhứt ( ) đại đấng to duy nhất trong trời đất, còn con người là nhứt tiểu. Nói theo Thánh Ngôn, Đức Chí Tôn là Đại linh quang còn con người là tiểu linh quang do Ngài ban.
Tư tưởng cổ truyền của Đông Phương khác hẳn Tây Phương. Đạo học cho rằng việc người với lẽ trời là một. Điều mà con người cho là nhân lực, thật ra là do thiên ý. Trình Y Xuyên tóm nội dung Kinh Dịch
: "Dịch giả, Thiên Nhơn tương hợp nhi dĩ hỉ"
 (Dịch chỉ nói về lẽ tương hợp của Trời và Người).
Rene' Gue'non cho rằng trật tự xã hội với trật tự thiên nhiên liên quan với nhau hết sức mật thiết, chớ không phải hai hoạt động khác nhau. Bác sĩ Faure cho rằng : "Các vết đen trên mặt trời (taches solaires) làm cho các bịnh cấp tính và hiểm nguy tăng độ đau lên đáng sợ. Nó còn gây nhiều vụ tự tử, nhiều án mạng rùng rợn". Ngược lại, những năm mà mặt trời yên lặng thì con người trên trái đất được thái bình.
Thứ đến, đạo học Đông Phương cho rằng vạn vật biến hóa và vận chuyển theo vòng tròn (thiên luân), còn Tây Phương cho nó theo đường thẳng. Trình Y Xuyên nói : " Biến là khí dương tiến từ Thiếu dương (một giờ đêm) đến thái dương, còn hóa là khí dương đã đến thời kỳ suy hủy từ Thiếu âm đến Thái âm" (24 giờ đêm thí dụ cho dễ hiểu).
Thần học Cao Đài thể hiện cái vòng tròn biến dịch (re'volution cireulaire) như sau : "Thầy là các con, các con là Thầy". Ý tưởng thiên nhân hợp nhứt quá rõ ràng. Cũng chính vì tiến hóa theo vòng tròn mà Đạo Cao Đài cho rằng Càn Khôn vũ trụ có ba ngươn : Thượng, Trung, Hạ rồi lại Thượng. Thượng ngươn tứ chuyển theo Đạo Cao Đài không phải thời thái cổ, rập y khuôn nếp sống thuở Thuấn Nghiêu hay kêu gọi con người trở lại thời hoang sơ. Thượng ngươn tứ chuyển là thời hiện đại (ở chữ tứ chuyển ) kêu gọi con người đừng xô xát nhau, Đạo nhắc nhở họ là anh em, con một nhà, một cha, cộng đồng huynh đệ ưu ái.
Nơi Bát Quái Đài thờ quả Càn Khôn tức Âm Dương (vô hình), đối diện với Quả Càn khôn là chữ KHÍ ở Hiệp Thiên Đài. Khí là khí hóa. Nếu Âm Dương không được khí hóa thì không thể hóa sinh muôn vật. Đó là cái ý nghĩa rất lớn của nhiệm vụ bán hữu hình Hiệp Thiên Đài, thông công thiên linh mà hóa hợp vạn linh". Càn tri đại thủy, Khôn tác thành vật" (Đạo Càn gây mầm trước, Đạo Khôn làm thành vật chất. Hệ từ thượng).
Sách Lã Thị Xuân Thu viết : "Phàm nhân vật giả, âm dương chi hóa dã, âm dương giả, tạo hồ thiên nhi thành dã" (Tất cả con người là do âm dương hóa ra, âm dương là do Trời tạo thành).
Tư tưởng "Thiên Nhơn hợp nhất" coi trời, người, xã hội là một chỉnh thể hài hòa. Thân thể con người là một tiểu vũ trụ thu nhỏ. Khái niệm này xưa kia ở Babylone, Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc đều hiện hữu, gồm ba tư tưởng chủ yếu :
1/- Con người là chí linh của vạn vật
2/- Con người có nhiều phương thức đối ứng với vũ trụ.
3/- Con người có thể dùng nhiều cách cảm ứng với vũ trụ.
Vũ trụ có âm dương hài hòa, ngũ hành sinh hóa, nhờ đó thân thể con người cũng như thế. Thân thể, tướng mạo con người ứng với hình tượng trời đất, nên người ta có thể dựa vào đó để đón phước họa của con người mà khuyên đừng trái ý trời.
Trời đất tồn tại lâu dài, con người là hình ảnh của vũ trụ thu nhỏ nếu chịu tu tâm luyện đơn (tức luyện khí) có thể thành Tiên Phật cùng trời đất vĩnh hằng. Khái niệm đó xây dựng quan hệ con người và tự nhiên giới, địa vị và vai trò chính của con người trong vũ trụ. Đó là con đường "Thiên Nhơn hợp nhất".
Tam giáo cho mục tiêu cuối cùng của đường tu là giải thoát. Theo Nho giáo, tu thân là để hợp với đạo đức, luân lý bao hàm quan hệ giữa con người với con người.
"Quản Tử, nội nghiệp" nói :
"Mọi người sinh ra, trời xuất ra tình, đất xuất ra hình, hợp 2 cái đó lại thành người, hòa hợp thì sinh,
không hòa hợp thì không sinh".
Con người đại thể là hình thể và tinh thần. Tinh thần có là khí trời, hình thể thành là từ khí đất. Sách "Hoài Nam Tử, thiên tinh thần" viết : "Khí trời là hồn, khí đất là phách". "Trời có gió mưa lạnh nóng, người cũng có lo, buồn mừng giận, cho nên mật là mây, phổi là khí, gan là gió, thận là mưa, tỳ là sấm…".
Trong "Tố Vấn, âm dương ứng tượng đại luận" cũng nói :
"Khí trời thông với phổi, khí đất thông với họng, hơi gió thông với gan, khí sấm thông với tâm,
khí núi thông với tỳ, khí mưa thông với thận".
Tóm lại, con người chẳng những do hai khí trời đất sinh ra mà hai khí trời đất còn nuôi dưỡng. Bởi lẽ,
người xưa gọi sự giao hợp giữa nam
(dương) nữ (âm) sinh con là "hợp khí âm dương".
Đổng Trọng Thư chủ trương "Thiên nhân cảm ứng" ông cho rằng Trời là thần tối cao có ý chí, là người sáng tạo, vị chủ tể tối cao của vạn vật và xã hội loài người. Sự biến đổi của muôn vật và sự hưng thịnh của xã hội loài người đều quyết định bởi thiên mạng.
Ông kết luận : Trời và người có khí chất và cảm tình giống nhau. Cho nên, giữa Trời và người có thể cảm ứng để đạt đến tiêu ngữ "Thiên Nhân hợp nhất".

Năng lượng tinh tế: Kiến thức cổ đại trở thành khoa học hiện đại



“Con người là một tiểu Vũ trụ”, bởi thế trong cơ thể nhỏ bé ấy lại tồn tại những thời gian – không gian vô hạn đôi khi khó có thể giải thích một cách cặn kẽ. Cũng như bộ não người chưa bao giờ được khoa học hiện đại khám phá hết khả năng tiềm tàng.

Phải chăng tổ tiên của chúng ta đã nhìn thế giới này như một Vũ trụ đa chiều?

Chúng ta đều quen thuộc với cấu tạo vật lý của cơ thể mình: Một trái tim, phổi, gan, tuyến tụy, thận, cơ và xương. Cộng thêm các tuyến, trong đó có tuyến giáp và tuyến yên tiết ra kích thích tố và điều tiết chức năng cơ thể của chúng ta.
Tóm lại, phần lớn chúng ta tin rằng trong con người chỉ tạo thành một chuỗi phức tạp của các quá trình sinh hóa, thời gian. Quan điểm này về sức khỏe, chữa bệnh và y học đã tồn tại cả hàng trăm năm.
Nó được dựa trên cách nhìn nhận của Newton về thế giới, thấy rằng tất cả cuộc sống như một loạt các cơ chế phức tạp. Theo quan điểm này, các bác sĩ được dạy để khái niệm cơ thể đơn thuần chỉ như một cỗ máy vĩ đại.

Nhưng có thực sự con người chỉ là một cỗ máy vĩ đại?

Khi chúng ta tiến vào thiên niên kỷ mới, thời điểm duy nhất mà khoa học và tôn giáo đang trở thành một thể thống nhất, và tiêu chuẩn mới về sức khỏe và y học đang bắt đầu diễn ra.
Theo đó, với mô hình mới này, cơ thể không chỉ là một loạt các cơ quan, các tuyến và quá trình sinh học mà là một mạng lưới năng lượng tinh tế phức tạp tương tác với nhau. Đó còn được gọi là mô hình Einstein.
Mô hình Einstein đã chứng thực rất nhiều các hiện tượng kì bí và tín ngưỡng tâm linh từng là một phần của nền văn hóa thế giới trong hàng nghìn năm. Những truyền thống này đưa ra giả thuyết cho rằng tất cả mọi thứ, bao gồm cả con người, được tạo thành từ mạng lưới liên kết chằng chịt của các nguồn năng lượng tinh tế.
Quan điểm này giúp chúng ta dễ dàng nhận ra cách thức con người kết nối với nhau và với mọi thứ trong toàn vũ trụ: Hữu hình lẫn Vô hình.

Vai trò của Năng lượng tinh tế – Các cơ quan tinh tế

Sự thay đổi trong quan điểm này khiến chúng ta dễ dàng hiểu rằng cơ thể chúng ta không đơn thuần chỉ là một thân thể vật lý. Trên thực tế chúng ta được tạo thành từ 5 thứ riêng biệt, đó là khái niệm “ngũ hành” trong Đạo giáo.
Ở một mức năng lượng dao động đặc trưng bởi sự tu dưỡng của con người, năng lượng tinh tế bao quanh chúng ta hiện diện và hòa nhập với những tầng thứ khác nhau của vũ trụ. Trình độ tu dưỡng càng cao, năng lượng mà chúng ta tạo ra càng tinh tế, và uy lực càng mạnh mẽ, hòa nhập sâu rộng hơn trong vô biên vũ trụ.
Cơ thể vật chất phàm tục của con người liên kết với vũ trụ thông qua các cơ chế hoạt động của năng lượng tinh khiết. Đó là nơi những linh hồn của chúng ta giao hòa với ý thức Vũ trụ. Cũng chính nhờ điều này, con người trở thành chủ thể có ý thức và tư tưởng.
Cơ chế hoạt động nhân quả là một trong những khía cạnh năng lượng tinh tế này. Ý thức và tư tưởng giúp chúng ta điều hòa các cơ chế năng lượng này, cảm xúc tích cực bồi đắp năng lượng tích cực, tư tưởng bất thiện tạo ra trường năng lượng phản vũ trụ, đẩy chúng ta tách rời khỏi sự vô biên của vũ trụ.
Nếu mục đích đời người là để giao hòa và trở về với bản chất của vũ trụ, con người cần tu luyện để tăng cường sự tinh tế của các nguồn năng lượng này, tiến nhập vào vũ trụ, khai mở những tiềm năng vốn bị phong bế với những quan niệm thế tục.

Năng lượng tinh tế vận hành thế nào?

Như đã nói ở trên, năng lượng tích cực, gần với đặc tính của vũ trụ, được tạo ra từ những suy nghĩ tích cực của một tâm hồn thiện lương, chịu nhiều đau khổ mất mát, chính vì chịu nhiều tổn thất nơi cuộc sống con người mà chúng ta đạt được sự thăng hoa về tư tưởng và nguồn năng lượng tinh tế.
Ngược lại, nếu đi ngược với bản chất thuần thiện hài hòa của vũ trụ, con người đã vô tình triệt tiêu nguồn năng lượng vi tế của mình, triệt tiêu sức mạnh vô biên vốn dung hòa với vũ trụ, đồng thời tạo ra một nguồn năng lượng tiêu cực, bao bọc và cô lập chúng ta khỏi vũ trụ, biến chúng ta thành rác thải của vũ trụ, đi đến một kết cục bị vũ trụ loại bỏ.

Năng lượng tinh tế & sức khỏe

Khi năng lượng của con người đang chuyển động và chảy trong tình trạng sức khỏe và hạnh phúc. Khi năng lượng của chúng ta chậm lại, trở nên trì trệ hoặc bị chặn nhưng hiển lộ không dễ dàng. Khó khăn đó là những phản ứng đối với sự mất cân bằng trong dòng chảy của năng lượng sức sống của con người.
Mất cân bằng trong năng lượng của cơ thể tinh thần có thể hiển lộ như hẹp hòi, thiếu tôn trọng đối với cuộc sống và thiên nhiên, hay vật chất. Sự mất cân bằng của các thiên thể biểu lộ như sân hận, giận dữ, nỗi sợ hãi, trầm cảm, và ghen ghét. Sự mất cân bằng của cơ thể thể hiện ở các hình thức của cảm lạnh, đau lưng, viêm khớp, hoặc ung thư.
Chỉ có tu luyện, khai mở nguồn năng lượng tinh tế bên trong cơ thể, con người mới đủ khả năng để cân bằng những sai lệch trong quá trình sinh sống nơi xã hội con người đầy ô nhiễm. Cũng như một ngọn núi, càng lên cao không khí càng loãng, con người cũng vậy, càng hòa nhập vào tầng thứ tinh tế cao hơn của năng lượng vũ trụ, con người càng loại bỏ đi nhiều vật chất xấu, thân thể đạt được sự trong sạch, hài hòa, thuần tịnh.
Với bình minh một thời đại mới trong khoa học, y học và chữa bệnh, chúng ta đang tìm lại phần đa chiều của chính mình. Và chăm sóc cơ thể không chỉ còn đơn thuần là chế độ ăn uống ngủ nghỉ, thuốc men, kiêng khem mà đó là sự bồi dưỡng tinh thần, vun đắp cho sự thăng hoa về tư tưởng.
Nó kéo dài đến những suy nghĩ của chúng ta, tình cảm và cũng như cảm xúc. Đã đến lúc chúng ta học cách tự chữa bệnh chính mình. Đó cũng là khi con người có thể đạt được sức khỏe viên mãn cả tâm lẫn thân.
 
Copyright © 2013-2033 CÔNG NGHỆ ET
Powered by MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT