BREAKING NEWS

Phát triển Tâm thức

MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT

Chuyển hóa Địa cầu

From our Blog

KHÁM PHÁ CHÍNH MÌNH

Có nhiều ảo tưởng làm cho con người khổ đau. Một trong những ảo tưởng dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng, đó là: tôi biết chính tôi. Hàng triệu người tin rằng họ thấu hiểu chính họ. Nhưng thật sự chúng ta biết chính mình về những gì?
Mặc dù một số người trong chúng ta nhận ra được tầm quan trọng của việc phải thấu hiểu chính mình vì chúng ta chưa hoàn hảo, tuy nhiên chúng ta vẫn đối xử với mọi thứ trong đời sống hằng ngày chúng ta làm như là chúng ta đã thấu hiểu chính mình rồi. Như vậy hãy xem kỹ thử chúng ta đã thấu hiểu về mình những gì. Có lẽ mỗi người chúng ta đều biết một phần về câu chuyện của cuộc đời mình là tôi sinh ở đâu, cha mẹ của tôi là ai, tôi đã bước vào trường học ở đâu, tôi đã thành đạt những gì trong cuộc đời, ai là những người bạn của tôi hay là người nào ngưỡng mộ tôi. Chúng ta cũng có thể tô điểm thêm những chi tiết tốt đẹp vào tiểu sử của mình. Vì chúng ta biết được một số thông tin như vậy, chúng ta nghĩ là chúng ta đã hiểu thấu đáo về chính mình. Ngay cả có người tự hào tuyên bố rằng, ‘Tôi tự biết tôi là ai’ và ‘Tôi thuộc hạng người nào’. Khi một người nào đó thành công trong cuộc đời, thì ý tưởng anh ta đã thấu hiểu chính anh ta nó càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Như các em bé hay những trẻ thơ, chúng ta không biết tí gì về chính mình cả. Em trai của tôi như đứa trẻ con chỉ biết học nói, luôn luôn nhắc đến chính nó là pāpā, trong ngôn ngữ của chúng tôi pāpācó nghĩa là đứa bé, và nó tự xem nó là một trong nhiều đứa bé thường được gọi là pāpā. Nhưng bằng cách nào đó sau cùng chúng ta cũng nhận ra được chính mình.
Ngoài những ý niệm về sự nghiệp hay những thành tựu của chính mình, nhìn chung chúng ta thật sự đã biết những gì?. Hầu hết khái niệm hiểu về chính mình đều dựa trên ngoại hình của thân thể vật lý, có lẽ sau khi nhìn vào gương soi nhiều lần, chúng ta biết rằng: tôi cao hay thấp, tôi bị hói đầu hay có nhiều tóc.
Do đó, những nhu cầu cần thiết và những sự mong muốn của thân thể đóng vai trò quan trọng trong đời sống của hầu hết con người. Ngay cả những gì mà chúng ta nghĩ là chúng ta biết về ngoại hình, nó cũng không đồng nhất với những gì mà người khác nghĩ về nó nữa. Một số người có thể tin rằng: ‘Tôi khá đẹp’, trong khi đó người khác nghĩ ngược lại. Mấy năm trước đây, một cô người Việt Nam đến Ấn Độ nói rằng: ‘Người ở đây thật là xấu, họ có sống mũi quá to!’. Nhưng một số người khác họ lại tự hào rằng họ có sống mũi chim ưng, cô nghĩ rằng sống mũi ngắn và hơi vểnh lên một chút thì đẹp hơn!. Như thế, quan điểm của chúng ta về ngoại hình có thể là sai đối với người khác.
Thật sự chúng ta khó mà biết được mọi thứ về thân thể - tứ chi và các cơ quan của thân thể cùng hoạt động thích hợp như thế nào?. Không phải vì chúng ta muốn như thế nào thì thân thể làm theo như vậy, mà tự nó hoạt động theo cách của nó!. Những năng lượng gì đã giúp cho thân thể này tồn tại, các năng lượng ấy đi vào cơ thể bằng cách nào và nó đã bảo tồn ngăn chặn sự phân huỷ của thân thể ra sao?. Chúng ta hoàn toàn không biết. Một vài người nhờ đọc sách có kiến thức về thân thể vật lý, nhưng thật sự họ mơ hồ về những gì để giúp cho cơ thể hoạt động, làm thế nào giữ nó được khoẻ mạnh?. Ngay cả các bác sĩ cũng không thật sự biết nhiều; họ có thể cho toa thuốc sai, hay phẫu thuật không đúng. Họ biết các cơ quan bên trong thân thể hoạt động như thế nào, nhưng không hoàn toàn đầy đủ.
Hãy quan sát những khía cạnh khác mà chúng ta nghĩ là chúng ta đã biết chính mình, ví dụ như tình cảm, chúng ta tưởng rằng chúng ta đã thấu hiểu tình cảm của mình. Khả năng kỳ diệu của việc tự cảnh tỉnh giúp chúng ta nhận ra được các cảm giác của chính mình như là: ‘Tôi khổ đau’ hay ‘Tôi sung sướng’, v.v… Bản chất tình cảm: vui sướng, khổ đau hay những bất trắc khó khăn, chúng ta đều nhận ra được, nhưng chúng ta biết một cách rất sơ sài. Nếu suy tư chín chắn hơn, chúng ta sẽ tìm thấy có nhiều sự mâu thuẫn trong tình cảm như là: thỉnh thoảng sợ sệt, rồi cảm thấy an nhàn, hay thỉnh thoảng hy vọng rồi thất bại hay buồn chán. Như trong sách Bhagavadgitā có nói rằng, chúng ta bị quay cuồng trong những mâu thuẫn của tình cảm mà chúng ta ít khống chế được. Vì hầu hết chúng ta không nhận ra được những mâu thuẫn, trái ngược, phi lý trong tình cảm của chúng ta. Chúng ta vẫn còn biết rất ít về các tình cảm sâu kín và những động cơ thúc đẩy bên trong của chính mình, đó là lý do tại sao những ngành chuyên môn của các nhà tâm lý học, phân tâm học và trị liệu học có lợi nhuận!.
Một đứa bé sẽ trở thành một công dân hiền hoà hay hung hăng phụ thuộc vào sự giáo dục của gia đình và nhà trường trong lúc bé còn tuổi thơ. Điều đó có thể đúng. Nhưng chúng ta cũng có thiên hướng riêng của chúng ta đã tích tụ trong nhiều đời trước, ví dụ như tính sợ hãi. Rất ít người thoát khỏi sự sợ hãi, vì nó đã kết chặt và tồn tại trong bộ não con người từ kiếp này đến kiếp khác. Bất cứ người nào có nỗi sợ hãi và nghi ngờ vô lý, hầu hết chắc chắn họ đã bị ám ảnh do dư nghiệp từ nhiều đời trước. Có một vài người ngay từ nhỏ đã có bản tính vui vẻ, hay nghi ngờ, hay dạn dĩ, hoăc là nhút nhát. Chúng ta hầu như không biết một tí gì về những thiên hướng của dư nghiệp này, nên chúng ta khó mà đối phó với nó và chính vì vậy mà có nhiều sự nhầm lẫn và phức tạp thường xảy ra trong cuộc đời này.
Do đó chúng ta phải xem xét tâm mình, chúng ta tưởng rằng chúng ta biết, nhưng thật sự nhận ra được bản chất tâm lý của mình quả là một việc rất khó. Con người đã phát triển cao về mức độ tiến hoá, trong đó có não bộ rất thông minh, và vì vậy chúng ta gần như đồng hoá chúng ta với qui trình của não bộ; chúng ta muốn con cháu của chúng ta có được kiến thức tốt để đạt được những nấc thang thành công và nổi tiếng trong xã hội về một lãnh vực nào đó.
Hãy nghĩ xem khi chúng ta cho rằng cái tâm này chính là ta thì thật sự chúng ta đã lấy một kẻ trộm để đóng một vai trò như người cảnh sát. Cái tâm này là ‘người sáng chế tư tưởng’, người ‘khơi dậy ảo tưởng’ và làm méo mó sự thật. Nhưng đáng tiếc rằng sức tỉnh giác của chính mình chưa đủ đến mức độ để chúng ta nhận ra rằng: việc thêm thắt các hình ảnh, quan niệm, và lý luận đó là do tâm của chúng ta hư cấu nên, chúng không thật chỉ là những ảo tưởng. 
Chúng ta cũng nên chú ý rằng những gì mà chúng ta phóng đại là ‘tự ngã’ thì hoàn toàn không ăn khớp với những gì mà người khác nhìn thấy. Thông thường chúng ta rất dễ nhìn thấy nhược điểm và sai lầm của người khác nhưng lại ít khi nhận ra được lỗi lầm của mình. Do đó chúng ta phải thường xuyên cân nhắc và tự hỏi chính mình: Ta đã thật sự biết ta là ai chưa?. Vì ta không biết nhiều về thân thể vật lý hay bản chất tình cảm trong vô thức của chính ta; hay là tinh thần của ta đang bị ảo tưởng khống chế như thế nào và nó đang vặn vẹo sự thật ra sao. Chúng ta biết quá ít về mình, chúng ta nên tự hỏi và suy tư nhiều hơn nữa, tốt hơn là chúng ta không nên nói ‘tôi biết tôi là ai, hay tôi thuộc loại người nào’. Và nên nhớ, ngay cả chúng ta không nói ra công khai, nhưng chúng ta cũng không nên hành động giống như là chúng ta đã hiểu thấu mình là ai rồi vậy.
Một trong những người thầy tinh thần dạy về sự cần thiết nhận ra chính mình, bà viết ‘tự biết mình chính là trí tuệ’. Do đó, tại sao chúng ta không bắt đầu tìm hiểu sự thật của tự ngã như thế nào mà cứ luôn luôn khổ nhọc hư cấu về nó?. Dĩ nhiên có người sẽ trả lời rằng tại sao tôi cần phải tìm hiểu chính tôi?. Những gì mà tôi biết, tôi có thể thực hiện được trong đời sống thực tế hằng ngày. Thật ra tôi đã khá thành công trong cuộc đời. Tôi cần những gì nữa chứ?. Nhưng cuộc đời đã cho chúng ta thấy sự lừa dối của thái độ này. Thế gian này là một tấm gương phản chiếu sự bạo động bên trong của chúng ta, hối lộ, lừa đảo, và tàn ác là đa số do con người. Vì vậy việc nhận biết chính mình rất quan trọng cần phải suy tư nghiền ngẫm.
Nếu chúng ta có khái niệm sai lầm về chính chúng ta, chúng ta cũng tạo ra khổ đau cho chính mình. Nếu tôi nghĩ tôi rất quan trọng thì sớm muộn gì tôi cũng bị xúc chạm, vì một người nào đó sẽ nói hoặc làm tổn thương đến sự quan trọng của tôi. Nếu một người nào đó nói rằng: ‘bạn ngu dốt’. Thay vì có thể tức giận chúng ta nên nhìn nhận và xem xét lại chính mình, lời phê bình này có đúng hay sai, hay đúng một phần, hay bất cứ là gì đi nữa, chúng ta nên xem thử nó đúng không. Nhờ đó chúng ta vẫn giữ được thái độ bình thản, và không đặt hạnh phúc của chúng ta vào sự điều khiển của tác nhân bên ngoài. Nếu chúng ta để tâm mình bị ngoại cảnh chi phối thì chúng ta tạo ra khổ đau cho bạn bè, gia đình, xã hội, và cho mọi vật chung quanh.
Ngày nay, vì để thoả mãn lòng khao khát cửa miệng người ta muốn ăn thịt các loài thú rừng, thậm chí nhiều loại thú đã bị diệt chủng. Lòng tham muốn mới lạ và kích thích của các giác quan phải chịu trách nhiệm về việc tăng cấp hàng tiêu dùng trong xã hội. Khi một người tự xem thân thể này chính là họ và đồng hoá nó với lòng tham muốn của bản thân thì anh ta sẽ chịu nhiều trách nhiệm thiệt hại, càng tăng thêm cạnh tranh, mâu thuẫn, v.v… Chủ nghĩa tiêu dùng càng tăng tức là trái đất xanh tươi phong phú của chúng ta càng bị phá huỷ và môi trường bị ô nhiễm. Vì vậy chúng ta hãy suy gẫm và nên nhận ra nếu chúng ta không cảnh tỉnh chính mình thì chúng ta tạo ra khổ sở cho bản thân và nhiều khổ đau cho thế giới này. Nói một cách khác nếu có sự hoà hợp trong trái tim của chúng ta thì thế giới này sẽ hoà bình. Một khi không hiểu cách làm sao mang lại hoà hợp từ trong tâm hồn thì việc suy tư và nói về hoà bình ít đem lại kết quả. Do đó chúng ta phải bắt đầu nhiệm vụ hiểu biết chính mình để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn, như chúng tôi đã đề cập thế giới này là tấm gương phản ảnh chính chúng ta.
Thân vật lý của chúng ta mong muốn nhiều thứ, nó muốn nghỉ ngơi khi có việc phải làm, khi cần phải giúp một người nào đó, nó lười biếng và có khuynh hướng không nỗ lực giúp đỡ. Rồi nó nói rằng ‘để người khác lo công việc đó cũng được.’ Thân vật lý nầy có những nhu cầu của chính nó vì mỗi tế bào là một sinh vật, nó có mối tương quan riêng và ở một vị trí nhất định. Tất cả các tế bào của thân này gộp chung lại có cảm nhận của chính nó. Theo thuật ngữ Thông Thiên Học gọi nó là ‘nguyên tố vật lý’.
Người nào đã đọc về cuộc đời ông Krishnamurti thì có lẽ đã biết qua khi ông nói về những gì gọi là ‘quá trình’. Khi ông lìa thân vật lý này để làm một số việc bằng thần thức thì thân vật lý phản ứng như thế nào, nó nói rằng: ‘đừng bỏ tôi lại’ nó khóc và gọi ông: ‘hãy trở lại’, rồi nó tự trách và thầm nhủ: ‘ta không nên gọi ông ta trở lại vì ta được dạy rằng không được làm như vậy’.
Chúng ta nên tự cảnh tỉnh rằng thân này thường có thái độ như vậy, nếu không ta sẽ thành nô lệ nó. Thật sự đối với tình cảm và bản chất tâm lý cũng giống như vậy; chúng có những thái độ hoạt động riêng của chúng, nếu không để ý đến những bản chất này chúng ta sẽ bị chúng đánh lừa. Bản chất tình cảm thích náo động, thích có cảm giác khổ đau, xúc phạm, sôi động, băn khoăn. Bất chấp là cảm thọ gì, mừng vui hay khổ đau, vì nó thích những cảm giác kích động mạnh.
Tâm lý chúng ta thích được tôn sùng cá nhân. Do đó nó hay so sánh và phán đoán để tự thuyết phục rằng nó cao hơn người khác. Thông thường chúng ta không cảnh tỉnh trong các sự việc này, nên chúng ta có thói quen hay phân tích, phê bình và bịa đặt tìm cách đánh giá mọi người, mọi vật. Vì vậy lời dạy ‘không nên phán đoán’ thật là quan trọng. Sự phân biệt là một phần hoạt động của tâm lý và nó cũng có lợi ích. Nếu chúng ta mất cảnh quang vật lý thì chúng ta sẽ mất khả năng phân biệt và nhận biết mọi vât. Nhưng khi chúng ta phân biệt và nhận biết như vậy chúng ta phải cảnh giác nếu không chúng ta sẽ tiếp tục tăng dần bản chất chấp ngã. 
Tự nhận ra chính mình không có nghĩa là phải nhớ những gì mà các nhà tâm lý học hay những vị thầy tâm linh đã dạy. Không có một lời nói nào của người khác có thể làm cho chúng ta nhận ra được cái gì là tự ngã và cái gì không phải là tự ngã. Chúng ta phải tự tìm ra rồi sửa đổi cuộc sống của chính mình. Tự thức tỉnh giữa con người với con người với nhau vẫn còn là điều rất sơ đẳng, đó là lý do tại sao chúng ta không thể biết được cái gì bên trong lớp vô thức của chúng ta - những cảm tính sâu kín, những động cơ thúc đẩy ẩn tàng sâu xa trong chúng ta.
Hầu hết chúng ta đều hài lòng với những lối sống thiếu suy nghĩ của chúng ta. Trước giai đoạn con người có mặt trên mặt đất này, mọi hoạt động đều tuỳ thuận vào định luật thiên nhiên, và tất cả sinh vật đều sinh sống thích nghi và phù hợp với sự hướng dẫn khôn ngoan của định luật thiên nhiên. Các loại thức ăn mà chúng tìm được, hay là tính khí của chúng có được từ lúc sinh ra, v.v…  đều là theo ‘bản năng’. Ở trong vùng giá rét, khi chim cánh cụt cái ra ngoài tìm thức ăn thì chim đực phải ấp trứng và đổi hướng trứng, nếu không trứng sẽ lạnh rất nhanh. Tại sao chim đực biết làm như vậy?. Vì thiên nhiên đã dạy nó. Vậy nếu con người hành động như các loài sinh vật thì họ sẽ từ bỏ tính khí đối xử phân biệt. Chúng ta sẽ bỏ thói quen hay quan sát và phân biệt giữa thật và không thật, phải quấy, lợi hại. Chúng ta còn biết rất ít về những điều này, chúng ta cũng chưa nhận ra được tai hại như thế nào trong một hành vi nhỏ của chúng ta. Như khi chúng ta nói lời độc ác hay lãnh đạm trước sự khổ đau của người khác là chúng ta có tội.
Nhưng có một sự nguy hiểm nghiêm trọng trong việc biết quan sát tự ngã là: nếu chúng ta không khéo soi xét nó sẽ trở thành một hình thức khác của ngã chấp. Điều căn bản quan sát là để nhìn nhận và vượt thoát sự xúc chạm, giận dữ, tham lam, v.v… của chính ta, nhưng khả năng tự cảnh tỉnh phải phát triển chứ không vì động cơ cho cá nhân.
Nên chú ý khi chúng ta cho rằng chúng ta hơn người khác, nhưng thật sự chúng ta cũng không khác gì với bao nhiêu người. Tất cả những người suy nghĩ rồi hành động theo tự ngã thì cùng hội cùng thuyền, cùng theo dòng thác cuốn với người chấp ngã, lối sống chỉ lo lắng cho chính mình. Cần phải thận trọng chắc chắn rằng việc tỉnh thức đó không trở thành một dạng hình mới là chấp ngã. Trong Upanishad nói rằng con đường đưa đến vượt thoát bản ngã, ảo tưởng và khổ đau rất nhỏ hẹp gay go khó mà giữ được thăng bằng và yên tĩnh. Trong quyển Light of the Path gọi nó là ‘thang hiểm hoạ của cuộc đời’. Chúng ta cần phải bước chân trên con đường này với sự tỉnh thức nhưng không được ích kỷ cá nhân và cũng không có một tí gì cho tự ngã là trung tâm.
Để tránh xa sự nguy hiểm này chúng ta phải dẹp bỏ tự ngã và ngã chấp đối với tất cả mọi việc chúng ta làm. Rất là tự nhiên chúng ta cảm thấy vui thích khi chúng ta gặp bạn bè hoặc thấy một vật gì đẹp. Tất cả cuộc đời này quá tuyệt vời, chúng ta có thể giữ luôn trạng thái vui vẻ này. Giá mà chúng ta thường xuyên cảnh thức với ảo tưởng thì trong lúc chúng ta nghĩ: ‘niềm vui sướng này là của tôi, tôi là như thế này, tôi là như thế kia, v.v…’ thì chúng ta cảnh tỉnh lại liền, ‘sự vui thích là sự vui thích, tại sao chúng ta phải nói rằng nó là sự vui thích của tôi ? Sự vui sướng của bạn đâu có gì khác với sự vui sướng của mọi người. Hạnh phúc của bạn (nếu là hạnh phúc thật sự) thì cũng giống như hạnh phúc của bao nhiêu người. Vì vậy chúng ta không nên nô lệ với thói quen mà nghĩ rằng nó là ‘tôi’ và ‘của tôi’, mỗi lần chúng ta phản tỉnh như vậy chúng ta sẽ cứng rắn hơn với tự ngã của chính mình.
Thứ hai nữa là ‘Hãy quan tâm thật sự đến tất cả đời sống vạn vật chung quanh bạn. Tập nhìn một cách thông minh vào trong tâm hồn của con người’. Để nhận ra hành vi của tự ngã hoạt động như thế nào, cách tốt nhất không những cảnh tỉnh tự ngã của mình mà còn phải xem cái ngã của người khác hoạt động. Như khi đi trên tàu xe, người ta có thể nhìn thấy tư cách của con người như thế nào, cái ngã phản ảnh như thế nào, như là cố gắng tìm một chỗ ngồi tốt nhất, tất cả đều lệ thuộc vào cái ưa thích và thuận lợi cho tự ngã. Bằng khả năng cảnh giác chúng ta có thể biết nhiều hơn nữa về bản chất con người và ngay cả hành vi của các loài thú. Tất cả những sinh vật chung quanh chúng ta như thú vật, con người, trẻ em, họ trưởng thành lên như thế nào; và cũng tương tự như vậy hãy quan sát cái đẹp, hư không, sự sáng tạo của thiên nhiên và những sự phản ứng của chính chúng ta. Như vậy, chúng ta có thể tự cảnh tỉnh nhiều và nhiều hơn nữa về chính mình, không trở thành ích kỷ cá nhân.
Người ta thường nói rằng thông minh nhưng phải vô tư. Do đó chúng ta nên nhìn một cách khách quan, không có phán đoán suy luận với tính cách cá nhân để tránh sự hiểm hoạ của ngã chấp thường xuyên hiện hành.

Doanh nhân & Thiền


Nói đến Thiền, mọi người vẫn thường nghĩ đó là một hình thức tu tập chỉ dành cho các nhà sư hay những bậc tu hành. Ngày nay, quan niệm đó không còn đúng nữa và cần phải hiểu theo nghĩa rộng hơn là Thiền dành cho mọi đối tượng... Đặc biệt, với giới doanh nhân luôn phải đối mặt với áp lực của công việc và những lo toan thường nhật thì Thiền là giải pháp hữu hiệu vừa thanh tịnh tâm hồn, rèn luyện sức khỏe lại vừa giúp tăng hiệu quả trong công việc. Nhưng áp dụng Thiền như thế nào để trút bỏ lo âu và tìm sự bình yên, thanh thản là nỗi khát khao mà không phải ai cũng thực hiện được. Nó đòi hỏi sự hiểu biết về bản chất, về những triết lý, tinh hoa của Thiền cũng như vai trò ứng dụng của Thiền trong cuộc sống và công việc. 



        Thiền và các quan niệm 
       Thiền là gì? Thiền: tên Hán Việt đầy đủ là Thiền-na, tiếng Phạn là Dhyana nghĩa là “dòng chảy của tâm trí”, là trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ để đắm mình trong ý nghĩ về ý thức vũ trụ. Tâm trí sẽ được mở rộng vô hạn, ý thức cá nhân không còn tồn tại mà hoàn toàn được giải phóng khỏi những trói buộc của bản ngã và sự đồng hoá để hướng tới sự “Tỉnh giác”, “giải thoát” và “Giác ngộ”. Nhờ việc tu tập Thiền, con người đạt được sự tỉnh táo, tập trung, nhìn thế giới rõ ràng, khám phá bản thể thật sự của mình, biết mình là ai, ở đâu, hướng tới tính thiện và lòng nhân ái bao dung.
       Dưới đây là một số quan điểm về Thiền:
       - Tại Trung Quốc, Thiền được hiểu theo một nghĩa rộng, bao gồm tất cả phép tu như: Quán niệm hơi thở Nhập tức xuất tức niệm, tứ niệm xứ... với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác.
       - Theo đạo Phật, Thiền là khi tâm thức đạt đến một trạng thái sâu lắng, chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng (tứ thiền), trong đó lòng tham dục dần mất đi, đạt đến trạng thái tỉnh giác, kiến tri vô lượng, tức là thông suốt về thế giới.
       - Theo tiến sĩ tâm lí học, Thiền sư người Anh David Fontana: “Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.”
       - Theo quan điểm của y học: Thiền là phương pháp quán khí, tĩnh tâm qua việc theo dõi hơi thở. Hít thở theo phương pháp này làm giảm mức tiêu thụ oxygen ở não, từ đó vỏ não được giải phóng và cải thiện việc tiếp nhận CO2 cần thiết cho sự thúc đẩy quá trình traođổi chất trong cơ thể, làm cho ta thở tốt hơn. Chính nhờ những tác động tích cực mà việc ngồi thiền đã được áp dụng các chứng bệnh hiện đại như: stress và các chứng bệnh liên quan đến thần kinh.

       Giới thiệu một số triết lý của Thiền 
       Một số triết lý, châm ngôn dưới đây sẽ giúp bạn hình dung phần nào về tinh thần lôi cuốn của Thiền môn.
       - Triết lý về sự thuần khiết và giản dị: Gạt bỏ những thành tố rườm rà, ham hiểu biết đến tột độ về bản chất của sự vật, hiện tượng. Lời nói không giúp chúng ta đến gần sự thật ngược lại nó ngăn cản chúng ta đến với sự thật.
       - Triết lý về sự tĩnh lặng và lưu chuyển: Tâm trí phải được bình thản nếu không con người sẽ không có được cảm giác bình yên. Vạn vật luôn biến đối không ngừng, dòng đời hối hả xuôi ngược với biết bao biến động hàng ngày, hàng giờ vây lấy chúng ta. Tư tưởng sống giữa những sôi động ấy vẫn thản nhiên dường như kéo dài thời gian đến vô tận.
       - Triết lý về sự lưu tâm: Khả năng cảm nhận từng chi tiết mà không bị những tham vọng và sự lo âu làm cho xao nhãng. Con người biết lưu tâm luôn tập trung hoàn toàn vào tất cả những gì mà các giác quan của họ cảm nhận được và vì thế họ hiểu được tầm quan trọng của từng chi tiết.
       - Triết lý mây và nước: Mây di chuyển tự do – đó là vô niệm – tạo thành và tái hình thành theo điều kiện không khí và chính bản chất của chúng. Nước tự thích nghi với tất cả mọi hoàn cảnh, lúc tròn lúc vuông, biến ảo đa đoan nhưng luôn giữ tính chất của nó. Mây và nước là biểu hiện của cuộc sống tự do thoải mái cộng với sự đàn hồi để tự thích ứng với mọi hoàn cảnh thay đổi, vì thế mọi lo âu, căng thẳng đều tiêu tan.

       Doanh nhân ngày nay đang quan tâm tới Thiền 
       Thiền đang trở thành một trào lưu hấp dẫn doanh nhân. Họ không chỉ tiếp cận với Thiền qua các lớp tập Thiền, các loại hình nghệ thuật liên quan đến Thiền, các cuốn sách về triết lý Thiền, mà còn đang tìm đến với các loại hình du lịch Thiền.
       Ngày càng nhiều lớp học Thiền, khóa tu Thiền được mở ra cho doanh nhân và mọi đối tượng. Tại Nhật và Mỹ, nhiều doanh nhân và nhân viên công sở tìm đến hành thiền Vipassana ở các Thiền viện như một cách để giải tỏa căng thẳng và lấy lại tinh thần làm việc. Ở Việt Nam, các phòng tập Thiền, câu lạc bộ Thiền cùng Yoga, Thiền Trường Sinh học,… đang thu hút đông đảo các doanh nhân tham gia. Năm 2008, với chương trình: "Thở và cười 2008: Doanh nhân với đất mẹ", Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã giúp nhiều doanh nhân tập thở và cười, tập dừng lại không suy nghĩ và làm việc chậm lại, tập những phương pháp thư giãn, giảm mệt mỏi trong cuộc sống.
       Không chỉ thế, giới doanh nhân hiện nay đang rất quan tâm và tham gia một số loại hình nghệ thuật liên quan đến Thiền như nội thất, kiến trúc, hội họa, trà đạo, thơ Thiền, ẩm thực…nhằm áp dụng Thiền trong cuộc sống sinh hoạt bình thường, từ việc ăn uống, làm việc nghỉ ngơi, trang trí nhà cửa, vườn tược...Nhiều người đã thay đổi lối sống theo phong cách Thiền: giản dị, thuần khiết, tự nhiên và cảm nhận được cái đẹp nơi tâm linh tiềm ẩn trong sự vật, hiện tượng.
       Bên cạnh đó, những cuốn sách về Thiền cũng được đông đảo giới doanh nhân quan tâm tìm đọc như "Thiền học cho Doanh nhân – những điều rút ra từ cuốn sách về kiếm đạo" của Muashi, Nghệ thuật Thiền trong cuộc sống của Ou Baholyodhin...hay sách của một số tác giả nổi tiếng như Osho, Krisnamurti...để tìm hiểu những triết lý châm ngôn Thiền Tông – không đơn thuần là triết lý tôn giáo mà còn là cẩm nang của cuộc sống.
       Ngoài ra, một số doanh nhân thường kết hợp du lịch với Thiền. Họ thường đi tới những nơi yên tĩnh vắng vẻ, hay tới các vùng núi, lên chùa…giấu mình trong không gian u tịch và tĩnh lặng của chùa, của núi sâu rừng thẳm để tìm lại chính mình. Đây là điểm đến lý tưởng để họ tìm đến hành Thiền, tham gia các buổi tọa thiền, đi dạo, ăn chay, ngủ và ngồi Thiền. Hiện nay, các địa điểm được giới Doanh nhân thường xuyên lui tới như các chùa chiền ở Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam...

       Vai trò của Thiền trong cuộc sống Doanh nhân 
       Thể lực, trí lực và tâm lực là những điều tinh túy nhất mà Thiền mang lại trong đời sống cá nhân của doanh nhân. Bởi Thiền không chỉ giúp doanh nhân phục hồi sức khỏe sau những giờ làm việc căng thẳng mà còn tăng cường minh mẫn, sảng khoái, tập trung cho trí não. Đặc biệt Thiền nuôi dưỡng tâm hồn từ sự giản dị, trong sáng cho đến tình yêu thương bao la với cuộc sống.
       Thể lực: Trước tiên, Thiền điều chỉnh việc hít thở đúng, làm giảm mức tiêu thụ oxygen ở não, từ đó thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ thể, tăng cường hệ miễn dịch, làm giảm quá trình lão hóa. Thiền giúp cho việc thở tốt hơn, giúp giải tỏa căng thẳng và mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ, giảm các bệnh thông thường đặc biệt là stress và các chứng bệnh liên quan đến thần kinh - căn bệnh thường gặp nhất của các doanh nhân.
       Trí lực: Thiền giúp cho đầu óc doanh nhân sáng suốt, chủ động trong mọi hoàn cảnh. Khi tâm con người phiền muộn, trí óc chịu nhiều áp lực lớn, tư duy không được chính xác có thể dẫn đến những quyết định sai lầm. Thiền giúp đối mặt, chuyển hóa, trị liệu những căng thẳng, lo lắng, cân bằng công việc và cuộc sống. Khi ngồi thiền tâm được tĩnh lại, đầu óc cảm thấy thư giãn, do đó trí não thông suốt, tư duy phát triển, nhiều ý tưởng mới nảy sinh.
       Tâm lực: Biết Thiền là biết sống đúng với hiện tại, coi đó là món quà quý giá. Thiền đem lại niềm vui, tập trung vào những ý niệm cao cả. Mọi tư tưởng vị kỷ, ham muốn quay cuồng theo dục vọng đều xa lìa. Tu thiền còn giúp con người ta nhìn sâu, nghe rõ, hiểu biết mọi việc, để chấp nhận, tha thứ và nuôi dưỡng yêu thương. Nhờ đó, con người sẽ cảm nhận, khám phá niềm vui và những tinh hoa, hưởng thụ cuộc sống đầy đủ trong từng giây phút. Dần dà, họ mong ước vươn đến những khát vọng vô hạn: khám phá chân lý, nhận thức được đấng tối cao, đạt đến cuộc sống vĩnh hằng. Thiền là lời giải đáp cho tôn giáo về khát vọng của con người: làm thế nào để vượt lên trên cuộc sống vật chất và tâm trí để bước vào thế giới "cõi tâm linh".

       Vai trò của Thiền trong quản trị kinh doanh 
       Bên cạnh vai trò đối với cá nhân doanh nhân, Thiền còn giúp họ trong công việc quản trị kinh doanh. Thiền đem lại cho doanh nhân sự bình tĩnh, dũng cảm vượt qua khó khăn trong công việc kinh doanh, sự khôn khéo trong công tác quản lý nhân sự. 




       Trong công việc kinh doanh: Thiền giúp doanh nhân có cái nhìn sâu sắc hơn trong làm việc. Yếu chỉ "bình thường tâm thị" của Thiền tức là trong công việc, đàm phán, đào tạo, làm việc nhóm...tâm phải bình tĩnh, giải tỏa căng thẳng thì làm việc mới hiệu quả, giải quyết các vấn đề một cách từ tốn và khoa học hơn. Bên cạnh đó, Thiền có khả năng đoạn trừ lòng sợ hãi, nghi kỵ… giúp doanh nhân biết đối mặt với khó khăn trong thương thuyết, đàm phán để thành công trong công việc kinh doanh của mình. Bà Nita Ing, nữ hoàng xây dựng của Châu Á tổ hợp xây dựng Taiwan High Speed Rail Corp cho biết:“ bí quyết kinh doanh thành công của bà là nhờ biết thiền. Biểu hiện giận dữ hay nóng nảy nhất ở bà chỉ là một cái nhíu mày.”
       Trong quản lý nhân sự: Thiền là công cụ đắc lực giúp doanh nhân giải quyết các vấn đề trong quản lý nhân sự. Người lãnh đạo khi áp dụng yếu chỉ “quan sát” trong "tỉnh giác quan sát”của Thiền như dùng báo cáo nội bộ, camere, kiểm tra đột xuất... sẽ làm nhân viên biết họ đang được quan tâm chú ý, nhờ đó, họ sẽ có động lực làm việc tốt hơn. Khi áp dụng yếu chỉ "tỉnh giác" – tức là thái độ không phán xét mà chỉ đánh giá kết quả làm việc, tìm yếu điểm và cách khắc phục, người lãnh đạo sẽ làm cho nhân viên tin tưởng, cởi mở và làm việc hăng say hơn. Trong trao đổi công việc, yếu chỉ "không trụ tướng" của Thiền nghĩa là người lãnh đạo trong im lặng, tỉnh giác, với tình thương bao la tới mọi người xung quanh mình, sẽ không bị cuốn theo thái độ của người nói, mà thấy cái ý họ muốn truyền đạt. Điều này giúp cho người lãnh đạo chủ trì những cuộc họp hiệu quả, phát huy đóng góp của người lao động, tiết kiệm thời gian. Từ đó, toàn thể thành viên trong doanh nghiệp trở nên năng động cởi mở và tự tin hơn, làm việc hăng say hơn, mọi lo âu mệt mỏi biến mất, sự ghanh tỵ, khó chịu đều giảm bớt...

       Lời khuyên áp dụng Thiền trong cuộc sống 
       Để áp dụng Thiền trong cuộc sống một cách hiệu quả, các doanh nhân ngoài việc luyện tập Thiền nên áp dụng Thiền trong lối sống hàng ngày từ cách bài trí không gian sống đến cách ăn uống, nghỉ ngơi…
       Luyện tập Thiền: Việc ngồi Thiền nên được tiến hành thường xuyên vào một thời gian cố định, có thể khoảng vài chục phút lúc sáng sớm hoặc trước khi đi ngủ. Trước khi Thiền nên chuẩn bị tốt và trạng thái cơ thể cũng như tinh thần. Khi Thiền nên tập trung cao độ, bằng cách chú ý đến cách thở, cảm giác bên trong cơ thể… Có thể đọc một số từ ngữ có tính chất nhịp nhàng, có khả năng tạo sự tập trung và tạo ra ý tưởng để tập trung tâm trí. Nên chọn tư thế ngồi hoặc đi bộ sao cho phù hợp nhất về mặt sức khỏe, tránh cảm giác tê mỏi. Tập Thiền cần sự kiên nhẫn, tập luyện một cách tự nhiên. Bạn đừng chờ đợi điều gì đó phi thường sẽ xảy ra nhanh chóng. Lâu ngày, lợi ích của Thiền sẽ tự đến với bạn.




       Không gian sống: Bên cạnh đó, áp dụng phong cách Thiền vào không gian sống tạo cho người doanh nhân sự thoải mái lâu dài và nghỉ ngơi đúng nghĩa. Sự bài trí không gian nên nhấn mạnh vào tính giản dị, tinh tế, nghiêm ngặt, khéo léo có chủ đích: đồ vật luôn sạch bóng, mẫu mã nhỏ nhắn, màu sắc hạn chế và chọn lọc, tôn lên những nét đặc trưng nổi bật, tạo không gian tĩnh lặng. Căn phòng luyện tập thiền nên là một căn phòng yên tĩnh, tránh tiếng động mạnh. Nơi ngồi Thiền phải sạch sẽ và tươi mát, nên sử dụng nhiều cây cảnh, các tranh ảnh tạo cảm hứng, thảm hoặc đệm để thiền...
       Ẩm thực: Theo nguyên tắc của Thiền, việc ăn uống không chỉ nuôi dưỡng cơ thể mà còn nuôi dưỡng tâm hồn. Lựa chọn món, nấu nướng, bày biện và ăn uống đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống.
       Nấu ăn cần được nâng lên thành một nghệ thuật, việc bài trí chau chuốt, với chế độ ăn thuần khiết được tuyển chọn kỹ đem lại lợi ích tối đa cho sức khỏe: cực kỳ thanh tao và bổ dưỡng. Các chất hóa học được giảm thiểu thay vào đó là màu sắc và mùi vị tự nhiên của món ăn.


Muốn hiểu rành cách thức THIỀN ĐỊNH hay Yoga , các bạn liên hệ Huyền Linh 
 

SINH VIÊN, HỌC SINH và vấn đề THIỀN ĐỊNH

                

Từ xưa đến nay, phần đông thiên hạ đều quan niệm rằng vấn đề THIỀN ĐỊNH chỉ dành riêng cho những hạng xuất gia tu hành, đã dứt bỏ việc trần, tìm đường giải thoát, còn các tu sĩ tại gia hay các hạng thường nhân thì không cần thiết. Vả lại, có muốn thực hành cũng chẳng được vì tưởng nó rất khó khăn.
        Sự thật không phải vậy. Đó chỉ là ý nghĩ sai lầm của những người thiếu hiểu, chưa rõ THIỀN ĐỊNH là gì. Thật vậy, THIỀN ĐỊNH rất hữu ích cho tất cả mọi hạng người: từ bực xuất gia đến hàng cư sĩ, từ kẻ quê mùa đến hàng trí thức, ai cũng cần và cũng thực hành được cả. Thật ra, nhiều người đã có tham thiền rồi mà họ không ngờ.
        Riêng đối với sinh viên và học sinh lại càng nên chú trọng đến vấn đề THIỀN ĐỊNH, vì nó lợi ích vô cùng.
        Chính Bác sĩ Isnard (nhà tu Phật tử nạn tại Hà Tiên), tác giả quyển “La Sagesse du Bouddha et la Scienne du Bonheur” cũng nói rằng: “Nên ghi vào chương trình nhà trường dạy nam, nữ học sinh lớn nhỏ sự tham thiền luận lý và ứng dụng. Tôi thấy nó là cái sức mạnh đỡ nổi hoàn cầu. (Il faut inscrire la méditation théorique et pratique au programme des écoles de deux sexes et pour tous les ages. Je vois en elle un levier capable de soulever le monde.) (Page 174)

THIỀN ĐỊNH LÀ GÌ ?
         Trong chữ THIỀN ĐỊNH gồm có THIỀN (tham thiền), nghĩa là yên lặng, suy tưởng và ĐỊNH (định trí), có nghĩa là kềm giữ cái Trí chăm chú vào một vấn đề nhất định, không cho xao lãng. THIỀN ĐỊNH nghĩa là yên lặng, tập trung tư tưởng lại và chăm chú vào một chỗ cho thông suốt tới đạo lý.
               
THAM THIỀN
         Theo nghĩa hẹp,Tham Thiền là suy xét kỹ lưỡng một vấn đề.
        Theo nghĩa rộng, Tham Thiền là danh từ Đạo lý, chỉ sự tu niệm về đường tinh thần để cho tia sáng minh triết có sẵn trong lòng người chủ trương đốc xuất, đưa mình lên cõi thiêng liêng. Tự cổ chí kim, các bậc hiền triết, các nhà Tôn giáo trứ danh đều tham thiền để thấu hiểu sự đời, cảm hứng cao thượng và trực tiếp đến những tư tưởng siêu việt, đạo đức thâm uyên. Phàm bí quyết của Trời Đất, hễ nghiền ngẫm mãi rồi thì cũng có thể thấu triệt được lý lẽ cao siêu và giải quyết được nhiều bí ẩn.
        Đức Pythagore cũng dạy:
       “Tham thiền là một động cơ rất mạnh, thúc đẩy sự tiến bộ về đường tinh thần, trí thức và đạo lý. Bởi vì những sức mạnh cao siêu, những ý nghĩa huyền mặc, những sự phát minh to tát về đường tinh thần, đều phải được tư tưởng đến luôn, nghiền ngẫm đến luôn, phải có bình tĩnh mà tham thiền thì mới xuất hiện ra được.”
                                                        o    o    o
ĐỊNH TRÍ

        Định trí có nghĩa là kềm giữ cái trí cho nó chăm chú vào một vấn đề nhất định, không để xao lảng.
        Nhờ có định trí mà ta mới có thể suy nghĩ chính chắn, thấu đáo vấn đề cần giải quyết. Định trí là một phương tiện giúp cho sự tham thiền đạt được kết quả.
        Chúng ta thử đem một tờ giấy trải ra ngoài trời, dầu nắng gắt bao nhiêu nó cũng không cháy được. Nhưng nếu ta đem để nó dưới tiêu điểm (foyer) của một tụ quang kính (loupe) thì trong vòng một hai phút nó đã bốc cháy, vì sức nóng của mặt trời đều gom vào đó.
        Sự định trí cũng giống như thế. Muốn giải quyết một vấn đề nào thì phải suy nghĩ mãi về vấn đề đó cả giờ, cả ngày, cả tháng, hoặc cả năm nầy qua năm nọ nếu cần, tới một ngày kia, ánh sáng sẽ hiện ra.
        Con người muốn trở nên thông minh, sáng suốt, thì phải học hỏi cho thấu đáo mọi việc, tập mở trí suy nghĩ cho tường tận các vấn đề. Nhưng nếu ta chưa định trí được để nó cứ lao chao mãi thì không thể nào thành công. Một bằng chứng cụ thể cho ta thấy là khi muốn giải quyết một bài toán đố khó, mà trí ta không yên tịnh, ta không chăm chú vào vấn đề giải toán lại suy nghĩ viễn vông, nhớ các vấn đề khác, thì ta không làm sao giải bài toán được.
        Vì thế, ta cần phải tập cho cái trí chăm chú vào một vấn đề nhất định. Định trí có hiệu quả thì tất cả sinh lực thiêng liêng đều dồn vào óc.
        Khi định trí đến mức tai không còn nghe tiếng ồn ào quanh mình, hay tiếng nói bên cạnh, mắt không còn thấy người đứng trước mặt, mũi không còn cảm biết được những mùi phảng phất bên ta, mà trí vẫn sáng suốt, là ta đã đạt đến trạng thái ĐẠI ĐỊNH.
        Hằng ngày, ai cũng có THIỀN ĐỊNH. Người buôn bán yên lặng suy nghĩ tìm cách để tiêu thụ một món hàng ối đọng, người nông phu ngồi trầm tư tính toán để giải quyết miếng ruộng bị hư hại; người thợ mộc chăm chỉ đo, ghi, đục mộng để đóng một cái tủ cho thật khéo, một chánh trị gia hay một quân nhân bóp trán để tìm biện pháp ngăn chận kẻ thù; một học sinh, sinh viên ôm đầu suy nghĩ để giải một bài toán hay làm một bài luận; đó là họ THIỀN ĐỊNH vậy. Tuy nhiên, cách thiền định nầy chưa theo đúng phương pháp và thiếu bền chí nên kết quả chưa bao nhiêu.
        Xưa kia, Phạm Ngũ Lão ngồi vót nan đan sọt mà miên man suy nghĩ việc dân, việc nước cho đến nỗi quân lính la ó cũng không hay, chừng bị giáo đâm vào đùi mới tỉnh, nhờ vậy mà sau ông được thành công trong các việc lớn.
        Và sau đây là câu chuyện của ông  Archimède:
        “Vua Syracuse là Hiéron đặt thợ kim hoàn làm một cái mũ triều thiên bằng vàng. Làm xong, Ngài nghi ngờ thợ có pha bạc vào vàng. Ngài bèn bảo ông Archimède suy nghĩ cách nào để cái mũ vẫn còn nguyên vẹn mà có thể khám phá đuợc sự gian lận. Archimède suy nghĩ lâu lắm, nhưng chưa tìm ra giải pháp nào cả, vì thế mà trong khi ăn ngủ nằm ngồi, lúc nào ông cũng không quên việc đó. Một hôm, ông đang tắm, ông
thấy sao chân tay ông để vô nước thì mất sức nặng của nó rất nhiều. Ông giơ chân lên một cách dễ dàng. Ông trầm ngâm nghĩ ngợi và lúc đó trí hóa ông vụt trở nên sáng suốt. Ông tìm được nguyên lý mà ngày nay học sinh các trường Trung Học đều biết: “Vật nào thả xuống nước cũng bị một sức đẩy từ dưới lên trên, mạnh bằng trọng lượng của nước bị xê dịch”.
        Ông mừng quá, chạy ra đường quên cả mặc quần áo, ông vừa chạy vừa la lên: Eurêka, Eurêka. (tôi tìm được, tôi tìm được).
        Đấy là những bằng chứng cho ta thấy rằng: THIỀN ĐỊNH không có chi lạ và khó, ai cũng có thể tập THIỀN ĐỊNH được. Nó rất hữu ích cho tất cả mọi người, nhất là học sinh, sinh viên. Nếu muốn thâu thái được nhiều kết quả trong việc học hành, muốn trí huệ được mau mở mang thì không thể bỏ qua vấn đề THIỀN ĐỊNH.
       
THIỀN ĐỊNH CÓ ÍCH LỢI CHO SINH VIÊN, HỌC SINH

        Khi đã hiểu ý nghĩa của hai tiếng THIỀN ĐỊNH rồi, chúng ta thấy sinh viên hay học sinh nào chịu tập Thiền Định sẽ được rất nhiều lợi ích.

 1/- HỌC BÀI, LÀM BÀI DỄ DÀNG.
         Phần đông học sinh chúng ta, khi học bài, làm bài, thường hay bị chi phối bởi những cảnh vật bên ngoài. Miệng đọc, tay cầm bút, nhưng mà trí thì để tận đâu đâu. Ta nhớ tới trận túc cầu chiều hôm trước, cuốn phim chiếu bóng tuần rồi, hoặc nói chuyện khào, nhìn mây bay, nghe chim kêu, nhạc trổi mà có khi cả tiếng đồng hồ chưa nhớ được một chữ hay viết được một câu.
        Nhưng nếu đã tập Thiền Định quen, thì trong khi ta học hay làm bài, dầu cho sấm nổ, chớp giăng, hoặc có ai múa hát trước mặt, cũng không làm cho trí ta xao lảng, mà ta vẫn yên tĩnh, thản nhiên, tìm hiểu thấu đáo được vấn đề của ta đang theo đuổi và ta học thuộc bài hay làm bài một cách dễ dàng.

2/- MỞ ĐƯỢC CÁC ĐỨC TÍNH TỐT
         Trong chương trình học ở trường có môn Đạo Đức - Công dân - Triết học, với mục đích để rèn luyện những đức tính tốt của con người. Nhưng mỗi tuần, nếu ta chỉ ngồi nghe thầy giảng vài mươi phút, thảo luận qua loa rồi chép bài về học thì kết quả rất ít ỏi. Lúc còn nghe giảng, còn thảo luận, thì ta còn để ý đến những việc phải làm, những điều cần tránh. Nhưng khi hết giờ học rồi thì ta lại làm những điều sái quấy mà ta vẫn không hay. Đó là tại ta chưa hoàn toàn chú tâm đến vấn đề và chưa đặt cho mình một kỷ luật phải theo.
        Để cải thiện những khuyết điểm trên, ngoài việc nghe thầy giảng và học bài, ta phải để ra mỗi ngày thêm vài mươi phút đặng Thiền định, đem hết tâm trí suy gẫm đề tài hay đức tính tốt mà ta vừa học hỏi, tìm hiểu nguyên nhân, xem xét kết quả, những việc ta phải làm, những điều ta phải tránh, tự đặt cho mình một kỷ luật phải noi theo để thực hành, và quyết tâm thực hiện cho kỳ được. Chắc chắn ta sẽ đạt được kết quả tốt đẹp hơn vô cùng.
        Thiền định về những đề tài đạo đức, không những nó giúp ta hiểu rành bài học, thực hành được những điều cao quý, mà nó còn giúp ta đạt được kết quả dễ dàng khi làm những luận đề LUÂN LÝ trong các kỳ thi, vì ý tứ ta đã có sẵn trong đầu, khỏi cần phải nghĩ suy lâu lắc.
        Ngoài ra, nếu ta có thể luôn luôn suy gẫm đến những đức tánh tốt, bất kỳ lúc nào, ngoại trừ giờ học các môn học khác, thì kết quả sẽ không còn gì hơn nữa, vì như vậy, trí ta sẽ không bị bỏ trống, khỏi bị tư tưởng xấu xâm nhập và ta sẽ không còn thì giờ đâu để nghĩ, hay làm những điều xằng bậy, lố lăng.

 3/- TRÁNH ĐƯỢC NHỮNG SỰ SỢ SỆT, LO BUỒN
         Đời học sinh gặp không thiếu chi những cảnh sợ sệt, lo buồn. Khi được thầy gọi lên đọc bài, làm bài, thuyết trình v.v. . . nhất là trong các cuộc thi, chúng ta khó tránh được những phút lo âu, hồi hộp. Sự lo sợ phập phồng đó có thể thay đổi kết quả một cách bất ngờ. Vì thiếu bình tĩnh, chúng ta sẽ quên mất bài đã học và không còn sáng suốt để suy luận nữa.
        Thế nên ta cần phải tập Thiền Định cho quen trầm tĩnh. Khi gặp những trường hợp như trên, chúng ta cứ tập trung tư tưởng, bắt trí ta chăm chú vào những việc phải làm (đọc bài, làm bài, v.v. . .) và nhất định không để cho một ý nghĩ sợ sệt bâng quơ len vào đầu óc, chúng ta sẽ không còn hồi hộp và ta sẽ vững tâm hơn. Thiền định còn có thể trị được bệnh yếu tim.
        Gặp trường hợp rủi ro, như làm bài sai, thi bị đánh rớt, nhờ phương pháp Thiền Định, ta có thể giữ không cho những nỗi buồn phiền, đau khổ, sự náo loạn xâm chiếm tâm hồn ta. Ta dựa vào luật Nhân Quả để tự an ủi, rồi nghiên cứu lý do thất bại để cải thiện, sửa đổi và tạo cho mình một niềm tin tưởng, hy vọng ở tương lai.
        Khi bạn bè có lầm lỗi với ta, thay vì giận hờn, oán trách, ta dùng phương pháp Thiền Định để tha thứ cho bạn. Chúng ta nhớ đến sự ôn hòa, lòng vị tha, bác ái, để giữ cho tâm được an ổn và kịp thời tìm những điểm tốt, đáng thương, đáng mến của bạn, bắt trí ta suy nghĩ và định vào đó. Thế là cơn giận của chúng ta sẽ nguôi ngoai, chúng ta không còn oán ghét bạn mà trở lại thương hơn. Tình đoàn kết nhờ đó sẽ nảy nở.
 4/- TRÍ TUỆ ĐƯỢC MỞ MANG, SÁNG SUỐT.
         Trên đây là một vài lợi ích được nêu ra đối với những người chưa tin vào khoa HUYỀN BÍ HỌC. Nếu vấn đề được đặt ra cho những người đã có lòng tin về khoa HUYỀN BÍ HỌC thì nó sẽ còn thêm nhiều lợi ích vô cùng.
        Ai đã đọc qua những sách nói về TƯ TƯỞNG và thể TRÍ của con người cũng đều biết rằng: thể TRÍ sanh ra tư tưởng và thâu hút những tư tưởng hạp với nó. Tư tưởng cũng có hình dạng và màu sắc. Nếu tư tưởng trong sạch, thanh cao, tốt đẹp thì nó làm cho cái TRÍ chiếu ra màu sắc chói lòa, tươi sáng, đẹp đẽ. Còn tư tưởng quấy thì màu sắc của cái TRÍ bị u tối, xấu xa. 
        Ngoài ra, các loại tư tưởng của con người, từ xưa đến nay, đều gom lại và tồn tại ở cõi Thượng Giới. Những tư tưởng nào thuộc về một vấn đề, một loại với nhau thì ở chung một chỗ gọi là TRUNG TÂM TƯ TƯỞNG. Có những Trung Tâm Tư Tưởng tốt, có những Trung Tâm Tư Tưởng xấu, Trung Tâm Tư Tưởng thuộc về Triết học, Vật Lý học, Tự Nhiên học, Hóa học, Thiên văn học, Sử học, Địa dư học, Địa Chất học v.v. . .
        Trung Tâm tư tưởng nào thì rút gom vào đấy những tư tưởng, ý kiến, thuộc loại đó của con người trên Địa cầu, từ đời nầy sang đời nọ, không phân biệt trúng, trật, hay, dở, cao, thấp, liên lạc hay rời rạc.
        Vì cái Trí có đặc tính thu rút những tư tưởng đồng bản chất với nó, nên khi chúng ta ngồi suy nghĩ sâu xa về một vấn đề gì thì tư tưởng của ta giao tiếp với trung tâm tư tưởng loại đó. Tùy theo bực tấn hóa của ta, cái Trí ta sẽ thu rút được những tư tưởng hợp với nó. Nhờ vậy, ta nảy sanh được những ý kiến mới và sẽ biện luận vấn đề theo một phương diện mới khác. Hơn nữa, nếu ta cố gắng luyện tập Thiền Định thì tâm trí ta không còn xao xuyến, nó sẽ được bình tịnh như mặt nước hồ thu khi trời lặng gió, và nhờ thế ta sẽ thấy rõ được mọi vấn đề huyền bí cao siêu, trí huệ ta sẽ mỗi ngày một mở mang và ta sẽ trở nên sáng suốt.
        Các nhà bác học, khi phát minh được những điều mới lạ, sáng chế được những máy móc tinh vi, các triết gia có những tư tưởng phi phàm, thì thường tưởng rằng đó là những điều mình tìm ra trước tiên, nhưng thật sự, hầu hết nó là những tư tưởng đã có sẵn từ lâu ở các Trung Tâm Tư Tưởng, mà các vị ấy đã thâu rút được trong lúc các ngài tập trung tư tưởng, đem hết tâm trí tìm tòi học hỏi về nó.

5/- ĐƯỢC SỰ TRỢ GIÚP VÔ HÌNH

        Cũng có trường hợp, chúng ta đang cố gắng suy nghĩ về một vấn đề gì, ví dụ, một bài toán đố khó, mà chúng ta không thể tìm ra lối giải, khi đó nếu có một vị Phò Trợ Vô Hình (Aide invisible) đi qua và thấy chúng ta hiền lành, thật thà đáng mến, Ngài sẽ giúp tư tưởng cho ta, bằng cách phóng tia sáng vào trí ta, làm cho ta thấy được cách giải dễ dàng mà ta không ngờ có người hộ trợ. 

 6/- TIẾP ĐƯỢC THẦN LỰC VÀ ÂN HUỆ.
         Sau cùng, nếu ta là một người có tâm đạo, đã diệt được lòng trần tục, thấp hèn, bỏ được những tánh ích kỷ hại nhơn, mà chỉ nghĩ đến việc cứu giúp muôn loài vạn vật, có những tư tưởng trong sạch, thanh cao, khi thiền định một cách đúng đắn, ta sẽ tiếp nhận được những thần lực và ân huệ của các Đấng Thiêng Liêng từ cõi trên ban xuống, làm cho tâm ta lần lần trở nên thơ thới, yên tĩnh, trí ta sáng suốt, chúng ta có thể mở được những khả năng huyền bí còn tiềm ẩn trong con người; nó là phương tiện để ta học hỏi những vấn đề huyền bí ở các cõi vô hình, để ta giúp đời và bước lần sang bờ giác.
KẾT  LUẬN
        Tóm lại, đối với SINH VIÊN, HỌC SINH, vấn đề THIỀN ĐỊNH thật hữu ích vô cùng. Nó là điều kiện tối cần để đưa người học trò đến chỗ thành công. Nó giúp cho người học trò học bài, làm bài được dễ dàng, nhanh chóng, mở được các đức tính tốt, chế ngự được những sự đau khổ, sợ sệt, lo buồn bâng quơ, tạo được cảm tình với bạn bè và tất cả người đời, trí huệ được mở mang sáng suốt, được sự giúp đỡ của những vị Phò Trợ Vô Hình, tiếp nhận được những thần lực và ân huệ của các Đấng Thiêng Liêng từ cõi trên ban xuống.
        Nếu các bạn học sinh, sinh viên chịu phân phối thời giờ, trong mỗi ngày, dành cho mỗi môn như Luân lý, Công dân, Khoa học, Triết học, Toán học, Thiên văn, Đạo đức v.v. . . một thời gan để Tham Thiền, suy ngẫm, thêm 15 phút vào lúc sáng, khi mới thức dậy, để tưởng niệm các vị Phật Tiên, hầu noi gương các Ngài, các bạn rán kiên tâm, bền chí, đừng bỏ dở, đứt đoạn, chắc chắn các bạn sẽ tiến bộ nhanh chóng không sao lường được, và sẽ thấy đời sống của mình thay đổi một cách lạ thường.
     Muốn hiểu rành cách thức THIỀN ĐỊNH, các bạn liên hệ Huyền Linh 

Đế Lục giác và TB


Có một vị Sư huynh hỏi tôi về cơ sở lựa chọn cho bộ đế Lục giác+TB Orgonite và đế vuông+ Kim tự tháp Orgonite. Tôi suy nghĩ khá lâu về câu hỏi này.

Đế vuông và Kim tự tháp thì dễ hiểu rồi, vì đế vuông là phần mở rộng của Kim tự tháp phía bên trên. Cho nên phần đế của Kim tự tháp đương nhiên là đồng dạng với đáy của Kim tự Tháp, chúng là Hình vuông.
Vậy tai sao tôi lại lựa chọn thiết kế đế Lục giác cho TB ?

Đi ngược thời gian về thời điểm thiết kế mẫu. Khi đó tôi và nhóm sản xuất Orgonite đã hiểu rõ rằng Kim Tự tháp Orgonite thì phát ra năng lượng dương- Nam tính . Còn TB thì phát ra Năng lượng Âm Nữ tính .
Khi đó bản thân tôi quá dương tính. Tính cách cứng rắn hung hăng, suy nghĩ rất nhanh, thiên về suy nghĩ và lý trí. Tôi thấy bản thân bị hấp dẫn sử dụng các Kim tự tháp mang năng lượng dương, vì giống nhau thì hút nhau. Ngưu tầm ngưu , Mã tầm mã. Sử dụng các Kim tự tháp giúp cho tôi cảm thấy có nhiều năng lượng hơn, cảm thấy mạnh mẽ hơn , làm việc hiệu quả hơn ...
Quá nhiều năng lượng Dương-Nam tính, khiến tôi bay bay, kết nối với Năng lượng Đất Mẹ rất kém, khó khăn trong việc thấy hiểu tâm tư của người xung quanh. Năng lương dương quá nhiều là mờ mắt trí huệ, Kundalini quá mạnh và thô... Bằng kinh nghiệm bản thân và đối chiếu với những điều tôi đã học hỏi với các Minh sư, tôi biết bản thân cần bổ xung năng lượng Âm - Nữ Tính . Đồng thời cân bằng lại hai loại năng lượng Âm - Dương , Nam - Nữ trong cơ thể . Nếu không làm việc đó , tôi sẽ gặp rắc rối lớn về sức khỏe cũng như về tu tập Tâm linh.
Tôi nghiên cứu và thiền định nhiều về đề tài này. Tôi sục xạo trên internet cũng như Thiền định đi vào các kho thông tin của Vũ trụ. Tôi học được rằng : thời đại Bảo Bình sắp tới là thời đại của Nữ tính, Thời đại của sự mềm mại uyển chuyển, của trực giác và của năng lượng Âm .
Ah, vậy để khắc phục các vấn đề cấp thiết của bản thân cũng như chuẩn bị đầy đủ năng lượng để tiến vào Thời đại Bảo Bình Hoàng Kim, Tôi cần bổ xung Năng lượng ÂM-NỮ TÍNH cho bản thân. Vậy thì phải dùng TB Orgonite. Vì TB sẽ cung cấp cho tôi Năng lượng Âm - Nữ tính Một cục TB thì không đủ cung cấp năng lượng cho tôi, cho nên tôi phát triển thêm phần đế cho TB Orgonite.

Vấn đề tiếp theo là đế cho TB sẽ là hình gì ?

Khi nghiên cứu về Hình Học Thiêng , Tôi được biết rằng các hình Seed of Life là kết cấu hình học cân bằng, vững vàng và cơ bản nhất trong Vũ trụ. Năng lượng Âm- Nữ tính cũng có đặc tính cân bằng và Vững vàng như thế. Kết nối Tâm điển của các hình Seed of Life ta sẽ được một hình Lục giác đều. cho nên tôi chọn đế cho TB Orgonite là hình Lục giác đều .
Năng lượng ở trên bề mặt các Kim tự tháp luôn tập trung mạnh nhất ở các cạnh. Tượng tự thế, Năng lượng của đế hình lục giác cũng tập trung ở sáu cạnh. Sáu trung tâm năng lượng của đế ở sau cạnh sẽ tạo thành các vòng tròn giao thoa nhau theo đúng hình Seed of Life.
Sau khi là thử nghiêm đế Lục giác, tôi cùng các anh chị em trong nhóm chế tạo Orgonite dùng thử và cảm nhận. Chúng tôi nhận thấy rằng, nếu phần giữa của đế hình lục giác rỗng, thì cho năng lượng mạnh hơn, tạo cảm giác thông thoáng hơn. Tôi thiết kế kích thước phần lỗ trống ở giữa đế cũng đúng theo Tỷ lệ Vàng trong Hình học Thiêng.
Tôi làm vài bộ đế đưa cho các anh chị em trong nhóm thử nghiệm dùng thử. Bản thân tôi cũng dành nhiều thời gian thiền định với các đế lục giác mới này . Tối và các anh em trong nhóm có bổ xung thêm một số chi tiết để tăng thêm năng lượng và làm tinh tế thêm dòng chảy của năng lượng.
Tới nay kết cấu của Đế Lục giác và TB khá hoàn chỉnh, cho ra một Năng lượng Âm- nữ tính khá tinh tế, giúp cho người sử dụng ổn định và cân bằng, Tăng thêm khả năng kết nối với Đất Mẹ. Năng lượng ÂM - Nữ tính đẩy đủ giúp cho chúng ta tự chữa trị và thanh lọc bản thân tốt nhất. Năng lượng Âm -Nữ tính đầyđủ giúp chúng ta hiểu được nhiều hơn về bản thân mình, từ từ giải đáp được câu hỏi quan trọng nhất " Ta- Là -Ai ? "

Chỉ số Bovis và Orgonite

Sơ bộ về Chỉ số Bovis .
Chỉ số Bovis được dùng phổ biến trong ngành cảm xạ học, dùng để đo mức năng lượng của người, của đồ vật và của môi trường . Người có chỉ số Bovis càng lớn thì càng mạnh khỏe, làm việc tốt, có công năng cao. Môi trường có chỉ số Bovis cao thì làm cho người sống ở đó khỏe mạnh, đầu óc thông minh tỉnh táo, tư duy chính xác, lựa chọn đúng đắn và dẫn tới thành công trong cuộc sống .
Một người bình thường có chỉ số Bovis vào khoảng 15 000 tới 17 000 .
Người khỏe mạnh chỉ số Bovis 20 000 .
Người thông minh sáng suốt và bắt đầu tác động được tới người khác thì phải có chỉ số Bovis trên 30 000 .
Các Lightworker muốn thức tỉnh Tâm linh, người tu hành muốn khai ngộ, Thương gia quan chức muốn đại thành công thì cũng phải có năng lượng thật cao, chỉ số Bovis thật lớn , lớn từ 40 000 trở lên . Nếu không có được mức năng lượng sinh học và chỉ số Bovis cao thì nói gì, làm gì cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi. Không có thực lực, chỉ là mơ mộng và nói bừa làm ẩu …..
Vậy thì tất cả chúng ta đều cần nâng cao chỉ số Bôvis của bản thân . Orgonite là một giải pháp đơn giản và hiệu quả để nâng cao sức mạnh sinh học , nâng cao chỉ số Bôvis.

Chỉ số Bovis và Orgonite .( phần 2 )
Tất cả các sản phẩm Orgonite của chúng tôi đều có chỉ số Bovis cao từ 50 000 trở lên .
Sử dụng Orgonite sẽ làm tăng chỉ số Bovis của bạn .
Một cô gái có chỉ số Bôvis là 15 000. Đây là mức trung bình. Sau khi cầm hai cục Orgonite hình Kim tự tháp có chỉ số Bovis mỗi cục là khoảng 80 000, trong trời gian 30 phút thì chỉ sổ Bovis của cô ta tăng lên tới 40 000. 
Cô ấy có cảm giác thoải mái dễ chịu, thấy khỏe mạnh hơn và điều tệ hại là cô ta bắt đầu nói hơi nhiều …
Không thể cầm mãi 2 cục Orgonite trên tay được. Chúng tôi khuyên cô ta bỏ một cục Orgonite hình Kim tự tháp vào cốp xe máy và để 1 cục Orgonite TB nhỏ vào túi xách. Sau 2 tuần thì chỉ số Bovis của cô ta ổn định ở mức 32 000 tới 35 000. Hiên nay sức khỏe của cô gái đó rất tốt, da dẻ căng mịn, vẫn nói nhiều …. công việc thuận lợi và đang từng bước đạt được những mục tiêu và mơ ước của riêng cô ta …
Đúng vậy ! Bạn và Tôi và tất cả những người đang sử dụng Orgonite đều được hưởng lợi từ Orgonite. Để Orgonite bên cạnh, trên bàn làm việc, trong cốp xe , trong túi xách … đều làm tăng chỉ số sinh học Bovis của người dùng. Điều đó chứng tỏ khi sử dụng Orgonite, các trường Năng lượng sinh học của bạn đang được củng có và nâng cao . Một trường Năng lượng sinh học vững vàng và khỏe mạnh là nền tảng cho mọi thành công trong cuộc sống . 3D, 4D, 5D gì cũng cần tới nền tảng sinh học này .
Bởi vậy chúng tôi nói : Orgonite bảo vệ bạn theo cách tinh tế !
Không những bảo vệ mà có thể Phục hồi - Ổn đinh- Nâng cao Trường năng lượng Sinh học của bạn. Một sức khỏe tốt, một trí huệ tỉnh táo minh mẫn, một Trường năng lượng sinh học mạnh mẽ, một chỉ số Bovis cao .. đó là điều kiện cực kỳ cần thiết để cho bạn bay cao , bay xa … đi tới Thành công . Orgonite của chúng tôi đồng hành cùng bạn .
Xin cảm ơn .


 
Copyright © 2013-2033 CÔNG NGHỆ ET
Powered by MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT