BREAKING NEWS

Phát triển Tâm thức

MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT

Chuyển hóa Địa cầu

From our Blog

Chân Tướng Thực Sự của Nền Kinh tế Chia Sẻ đến từ Uber hay Airbnb

Câu trả lời rất đơn giản và rõ ràng: Chẳng có ai tự dưng chia sẻ điều gì cả. Tất cả mọi người đều muốn kiếm tiền.

Chân tướng thực sự của nền kinh tế chia sẻ đến từ Uber hay Airbnb
Uber đã làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới.
Nền kinh tế chia sẻ đang là một trong những khái niệm khá phổ biến ở thời điểm hiện tại. Nó dùng để chỉ những dịch vụ như Uber (ứng dụng chia sẻ chuyến đi) hay Airbnb (dịch vụ tìm chỗ ở trực tuyến toàn cầu) cùng hàng loạt cái tên ăn theo khác ở phạm vi địa phương. Trong đó, Uber đã trở thành biểu tượng cho sự thành công của loại hình kinh tế này khi dần dẫn đầu thị trường với những con số đáng kinh ngạc về tầm ảnh hưởng.
Dẫu vậy, không phải ai cũng tỏ ra đồng tình với nền kinh tế chia sẻ. Cựu phóng viên kỳ cựu Steven Greenhouse của thời báo New York Times khẳng định, đây đơn thuần chỉ là làm công ăn lương và thực chất chẳng hề có sự chia sẻ nào hết.
Ngoài ra, chuyên gia kinh tế Fred Wilson cũng dự đoán, khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” sẽ sớm lép vế trước “nền kinh tế cho thuê”. Bởi về bản chất, không có ai đang chia sẻ điều gì cả. Tất cả mọi người đều đang kiếm tiền mà thôi.
Vậy khía cạnh nào của nền kinh tế chia sẻ này lại không thực sự mang ý nghĩa sẻ chia? Đơn giản, đó là tiền. Ở chung phòng với người bạn mới quen có nghĩa là chia sẻ. Nhưng nếu tỉnh dậy vào sáng hôm sau, bạn đưa cho cô nàng một tờ hóa đơn tính tiền phòng cùng đồ ăn sáng thì xin chào, bạn vừa biến thành một bà chủ khách sạn. Sẵn sàng cho ai đó đi nhờ xe chính xác là một sự sẻ chia đáng quý. Nhưng nhận tiền từ họ lại khiến bạn trông như một gã tài xế taxi. Cho ai đó mượn tiền khi họ đang túng thiếu quả là một cử chỉ hào phóng. Nhưng lấy lãi dù chỉ 1%/ngày cũng khiến bạn trở thành một kẻ cho vay cắt cổ.
Có thể khẳng định, không một trường hợp nào liệt kê ở trên được coi là chia sẻ đúng nghĩa. Chúng nên được xếp vào hạng mục mua bán, nơi những món hàng được trả bằng tiền. Đương nhiên, buôn bán chẳng có gì sai trái, bởi có kẻ mua thì mới có người bán. Tuy nhiên, việc đánh đồng mua bán với chia sẻ đơn thuần khiến khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” trở nên ngày một kệch cỡm. Cụm từ này từ trước tới nay vẫn được lặp đi lặp lại trong các thông điệp quảng bá bùi tai. Thực chất, các công ty như Uber hay Airbnb chỉ đơn giản dùng nó như một công cụ PR và làm tấm bình phong che chắn giữa trận chiến với các nhà chức trách.

Tương tự, Airbnb cũng đang phải đối mặt với nhiều rắc rối.
Tương tự, Airbnb cũng đang phải đối mặt với nhiều rắc rối.
Thực chất, nền kinh tế chia sẻ là một sản phẩm không mới của Internet hay còn gọi là cộng đồng trực tuyến. Những người ủng hộ nền kinh tế này luôn nhất mực khẳng định, đề cao quyền sử dụng đang trở thành trào lưu ăn đứt quyền sở hữu. Theo đó, Airbnb đã gặt hái được thành công vang dội nhờ phương châm: Đừng nghĩ đến việc làm giàu nếu bạn không biết cách kiếm tiền từ chính những thứ bạn đang sở hữu. Hãy vắt kiệt giá trị sử dụng của chúng.
Bạn cứ nghĩ rằng làm giàu thật khó nhưng hãy thử nhìn xung quanh, bạn có nhà cửa, có tài sản. Vậy tại sao không bắt đầu từ chúng?
Tương tự, Uber cũng thành công rực rỡ khi thay chuỗi cung ứng già cỗi giải quyết rất “ngọt” vấn đề nan giải của ngành công nghiệp vận tải hàng chục năm nay với phương châm: Không bao giờ để phương tiện trống trên đường về.
Những phát kiến sáng giá đó có thể hết sức giá trị với nhiều đối tượng người dùng của riêng chúng. Dù vậy, những hình thức kinh doanh không bền vững không có khả năng khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Chúng chỉ đang đơn thuần tìm cách thích ứng và bật lên so với các cách thức kinh doanh truyền thống.
Có thể thấy rằng, cho dù có đột phá và thông minh đến mấy, không một mô hình kinh doanh nào của nền kinh tế chia sẻ có khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế nan giải mà hiện tại nhân loại đang đối mặt. Trên hết, nền kinh tế gây tranh cãi này cũng nên sớm đi vào quá khứ bởi áp lực kinh tế nó đã và đang tạo ra, trong khi thế giới chỉ vừa mới hồi phục sau cơn “bạo bệnh” suy thoái kinh tế cách đây chưa lâu.

Uber đã làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới.
Uber đã làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới.
Tuy nhiên, yếu tố chia sẻ chỉ là một phạm vi rất nhỏ nằm bên lề guồng quay khổng lồ của nền kinh tế toàn cầu. Cũng phải thừa nhận rằng, dù ít dù nhiều, ngành công nghiệp taxi chắc chắn đang bị ảnh hưởng về năng suất do phạm vi hoạt động của Uber đang ngày một mở rộng. Và Airbnb cũng có sức ảnh hưởng không nhỏ lên các hệ thống khách sạn trên toàn thế giới.
Chính vì vậy, hoàn toàn có thể kết luận, cả Uber lẫn Airbnb đều hoàn toàn có thể thay thế các dịch vụ truyền thống, nhưng không ai dám chắc về khả năng đóng góp cho nền kinh tế toàn cầu của xu hướng này.
Chính vì vậy, thời kỳ hoàng kim của nền kinh tế chia sẻ có lẽ đang dần đi đến hồi kết. Tại Mỹ và nhiều nước châu Âu, nền kinh tế chia sẻ đang là thứ đẩy người lao động vào cảnh thắt lưng buộc bụng để đổi lấy tồn đọng tiền lương và mức sống giảm sút. Tại sao có thể nói vậy? Đó là bởi sự bùng nổ các loại hình dịch vụ chia sẻ đã dẫn đến năng suất lao động thấp ở nhiều nền kinh tế phương Tây, nguyên nhân chính của tình trạng tồn đọng lương tại các doanh nghiệp.
Tóm lại, một khi vấn đề năng suất thấp và khả năng đóng góp cho nền kinh tế vẫn chưa được xử lý thấu đáo, sự chia sẻ đúng nghĩa duy nhất đang diễn ra chỉ có thể là sự bất an mà thôi.

    LUẬT PHỤNG SỰ


    Luật  Phụng Sự

    Phụng sự  là một đặc tính của linh hồn hay chân nhân, nó quản trị mọi sinh hoạt của linh hồn. Dầu vậy tùy mức phát triển mà có nhiều cách hiểu luật này, phần dưới đây ta cố gắng tìm hiểu luật theo quan điểm của chân nhân, và do vậy sẽ khác phần nào với quan điểm thông thường.
    ● Thứ nhất, những tiếp xúc có được khi việc tham thiền và sự thành công của ta được xác định bằng việc  phụng sự tiếp theo đó, bởi nếu có hiểu biết đúng đắn thì đương nhiên sẽ dẫn tới hành động đúng đắn.
    ● Thứ hai, luật này là điều không sao tránh được, và việc cố tình tránh né mang lại sự trừng phạt. Khả năng phụng sự đánh dấu một mức tiến bộ rõ rệt trên đường Đạo, và khi chưa đạt tới mức ấy, việc phụng sự tự nhiên làm do lòng yêu thương và được minh triết hướng dẫn, chưa thể có được, mà điều hay thấy từ trước tới lúc ấy là thiện ý, động cơ lẫn lộn và thường khi có lòng cuồng tín.
    Luật này là sự áp đặt các năng lực và động lực phát ra từ chòm sao Bảo Bình (Aquarius) mà ta đang tiến vào lên nhịp của trái đất, và do vậy sẽ phải xẩy ra. Việc khối đông dân chúng tại vài nước bị cưỡng bức sống vào khuôn khổ chung là ảnh hưởng của luật, khiến cho cá nhân phục vụ tập thể qua việc bị ép phải làm ngơ cái tôi của mình. Tư tưởng riêng, sự an lạc cá nhân và luôn cả bản thể của họ trở thành thứ yếu so với  tập thể.
    Đây là một trong những cách biểu lộ thấp nhất của luật trong tâm thức con người, và theo cái nhìn của sự phát triển linh hồn thì con người trở nên tương đối  vô dụng. Bởi họ bị ép buộc phải phục tòng theo điều kiện của khối đông dù muốn hay không muốn. Với cách biểu lộ cao nhất, ta có việc phụng sự của các Chân sư cho mọi loài trong thiên nhiên trên địa cầu. Có sự phân biệt lớn lao giữa hai thái cực này, nhưng cả hai đều diễn ra do việc đáp ứng với luật phụng sự, một đằng là thực hiện nó hữu ý, và đằng khác là bị chỉ định vô thức.
    ● Thứ ba, luật được đức Chúa (đức Di Lặc) thể hiện trọn vẹn hai ngàn năm về trước. Ngài là người tiền phong cho kỷ nguyên Bảo Bình và ta thấy điều này qua việc ngài luôn nhấn mạnh tới sự kiện ngài là ‘nước của sự sống’, là ‘nước sống động’ mà nhân loại cần. Thời Song Ngư (Pisces) đang tàn đã chuẩn bị hết sức chậm chạp mở đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của việc phụng sự, điểu vinh quang sẽ đến trong những thể kỷ tới. Dấu hiệu của việc ấy là ngày nay, người trên thế giới đang dần ý thức, và nói tới ý niệm rằng ‘không ai sống một mình’.
    Hình ảnh của kỷ nguyên Bảo Bình hay được vẽ là người vác trên vai bình nước đầy tới nỗi nước trào ra lênh láng mà không hề cạn. Biểu tượng của luật phụng sự rất giống vậy, chỉ có khác biệt là con người đứng thẳng, hoàn toàn thăng bằng theo hình thánh giá, với cánh tay giang rộng và bình nước đội đầu. Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa đáng nói.
    Bình nước đặt trên vai là dấu hiệu gánh nặng của chuyện phụng sự, phụng sự là việc không dễ. Con người ngày nay chỉ mới bắt đầu học cách phụng sự. Còn hình ảnh bình nước trên đầu người đã ở trên thánh giá hy sinh quá lâu đến mức tư thế ấy trở thành hết sức tự nhiên đối với họ, cho biết thánh giá ấy từng nâng đỡ họ biết bao lâu, nay đã biến mất. Con người với bình nước trên đầu muốn nói là họ đã đạt tới sự quân bình, vững chãi và thăng bằng.
    Phụng sự thường được diễn giải như là việc hết sức đáng ước ao, mà người ta ít khi nhận thức là thực ra ấy là chuyện rất khó. Nó đòi hỏi có nhiều hy sinh về thời giờ, sự quan tâm và tư tưởng riêng của một người, vì nó cần nỗ lực có chủ ý, chủ tâm sáng suốt và khả năng làm việc mà không bị ràng buộc. Tất cả là các đặc tính mà người chí nguyện trung bình khó có được, thế nhưng ngày nay đa số người trên thế giới có khuynh hướng muốn phụng sự. Được như vậy là sự thành công của cuộc tiến hóa.
    Phụng sự thường được xem như là nỗ lực làm người chung quanh chấp nhận quan điểm của người phụng sự, vì điều gì người sau thấy đúng, chân thật và hữu ích thì nhất thiết phải đúng, chân thật và hữu ích cho mọi ai khác. Phụng sự được quan niệm là điều gì đó ta làm cho của nghèo, người khuyết tật, ai đau ốm và ai đau khổ, và ta nghĩ ta muốn giúp họ mà ít nhận ra là sự giúp đỡ này được đưa ra trước hết là vì tình trạng khó khăn của họ làm ta không cảm thấy thoải mái, và như thế phải nỗ lực cải thiện tình trạng hầu làm ta thoải mái trở lại. Hành động vì vậy giúp ta tránh được sự chán chường, ngay cả khi ta không làm nhẹ bớt hay giải trừ cho ai bị đau khổ.
    Phụng sự thường được xem là dấu hiệu của ai bận rộn và linh hoạt quá mức, hay ai có tánh tự mãn, dẫn tới việc người như thế có nỗ lực to lớn để thay đổi tình thế, làm chúng trở thành điều mà họ nghĩ chúng phải vậy, tức ép buộc người khác qui thuận theo điều mà người phụng sự  nghĩ là phải có. Hoặc việc phụng sự  có thể sinh ra do ước vọng cuồng tín, muốn đi theo chân đức Chúa, noi gương ngài làm lành. Con người do đó phụng sự vì vâng lời mà không phải tự nhiên muốn hướng tới ai cần trợ giúp.
    Theo cách ấy, hành động không có tính chất thiết yếu của việc phụng sự, và ngay từ đầu ta không làm gì hơn là chỉ có vài cử chỉ. Tương tự vậy thì phụng sự cũng có thể sinh ra do ước vọng sâu kín muốn đạt sự toàn thiện tâm linh. Ý hay thấy là phụng sự được xem như là một trong các đặc tính cần thiết của người đệ tử, vậy thì nếu ai là đệ tử thì bắt buộc họ phải phụng sự. Lý thuyết này đúng nhưng không có bản chất sống động của việc phụng sự. Nó chân thực và đáng khen, nhưng động cơ nằm đằng sau thì lại hoàn toàn sai lầm.

    Các Nguy Hiểm
    Có ba điểm nguy hiểm chính trong khi phụng sự, tâm tính một ai, tình cảm, thể chất, trí tuệ của họ đều có  ảnh hưởng lên khung cảnh chung quanh và những người quanh họ, cũng như là giáo dục gia đình, và lời nói của họ.
    ● Nguy hiểm đầu tiên là sức khỏe mỗi người. Lẽ tự nhiên ta cần có sức khỏe để làm việc giỏi dang, khi thiếu sức khỏe thì chẳng những ta phải lệ thuộc nhiều hơn vào thân xác, mà đồng thời không thể phụng sự như ý. Ai cũng biết các chăm sóc tối thiểu cho sức khỏe như ăn đúng cách tùy theo nhu cầu mỗi người, ngủ đủ nên không cần bàn nhiều ở đây. Mặc khác khi tu tập con người sẽ thu hút vào nhiều năng lực mà anh chưa quen, dễ gây căng thẳng và lo lắng, nên rất cần sức khỏe để sử dụng chúng, giữ não cân được an nhiên.
    ● Nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo ảnh cõi trung giới mà tất cả nhân loại đang sống trong đó, ngay cả ai nhiều kinh nghiệm cũng bị ảo ảnh chi phối. Bởi đây là hiện tượng  cõi trung giới và tác động chính lên thể tình cảm, theo nguyên tắc muốn giải quyết việc thấp thì phải dùng năng lực cao hơn, chỉ có làm chủ trí não và có cảm nhận tinh thần chân thực mới đủ để xuyên thấu màn ảo ảnh, và cho thấy rằng ta là thực thể tinh thần sinh hoạt trong thân xác, và là một với Đại Hồn.
    Với ai cứ để mình chìm đắm trong ảo ảnh thì hệ quả thật rõ ràng. Viễn kiến của họ trở thành mờ mịt và mất ý niệm với thực tại, không thấy con đường thẳng đưa anh tới mục tiêu.
    ● Nguy hiểm thứ ba là điều hay gặp trong thời đại này, ấy là niềm kiêu hãnh  tinh thần, với hệ quả là ai như vậy không thể làm việc trong nhóm. Người ta có thể có thành công tạm thời nhưng rồi phải làm việc với nhóm bị thiếu sinh lực do việc những thành viên giỏi nhất đã bỏ đi, và chỉ còn lại những người nuôi dưỡng cái tôi của ai lãnh đạo nhóm. Do việc nhấn mạnh vào ý tưởng và phương pháp làm việc riêng  của mình, kẻ đứng đầu nhóm có thể thấy nhóm anh thiếu các yếu tố và thành viên làm nhóm  đa dạng,  đầy đủ, những ai làm quân bình nỗ lực của anh, đóng góp vào nhóm các tính chất, tài năng mà tự anh thiếu.
    Tình trạng này tự nó đủ là sự trừng phạt cho anh, và mau lẹ làm ai phụng sự thật lòng tỉnh ngộ. Ai thông minh, thành thật và chân tình có thể bị sai làm như thế và theo với thời gian sẽ bừng tỉnh với sự kiện là nhóm mà anh tụ tập quanh mình nhào nặn anh cũng như anh nhào nặn họ, các nhóm viên thường khi  là thể hiện của anh và  lập lại anh. Như đã có ghi trước đây, khi một ai quyết chí đi trên đường Đạo, luật sẽ tác động nhanh hơn cho anh so với ai khác, vậy hệ quả sẽ mau lẹ tới và anh cũng phải lẹ làng điểu chỉnh lại tình trạng.
    Một điều có thể làm phấn khởi ai phụng sự là câu nói rằng không có một nhiệt tâm mà không được nhận biết. Anh được theo dõi và mỗi hành vi thân ái, mỗi tư tưởng khát khao và mỗi phản ứng không ích kỷ đều được ghi nhận và biết đến. Dầu vậy, ta cũng nên ghi thêm sự cảm nhận này có được qua làn rung động gia tăng nơi người chí nguyện, mà không phải do biết chuyện họ làm, hay tư tưởng gửi đi. Các vị thầy chú trọng vào những nguyên tắc của chân lý, vào mức rung động và phẩm chất của ánh sáng (tức hào quang) phát ra nơi người phụng sự. Ngài không ý thức, hay có thì giờ để xem xét hành vi, lời nói, và tình trạng đặc biệt nào; và chúng ta nắm vững điều này sớm chừng nào, cùng gạt bỏ khỏi tâm trí bất cứ hy vọng nào được tiếp xúc vị gọi là Chân sư, để ngài bỏ giờ quan tâm đến chuyện không đáng của mình, thì ta càng tiến mau chừng ấy.
    Kế đó, khi có sự tăng trường đều đặn, có việc áp dụng các nguyên lý huyền bí sinh ra thay đổi rõ rệt trong các thể, và ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ hơn (là hào quang), những điều này được biết và ghi nhận và người phụng sự được thưởng, bằng cách có cơ hội nhiều hơn để làm việc giúp đỡ đồng loại mình. Các ngài không thưởng bằng lời khen, bằng cái xoa đầu, hay lời khen ngợi.  Các ngài làm con người trở thành kẻ hiểu biết và bậc thầy bằng những cách sau:
    1. Dạy con người biết chính mình.
    2. Làm cho họ được tự do thoát khỏi thẩm quyền  bằng cách gợi nên sự ưa thích và thắc mắc trong tâm trí họ, và chỉ hướng (mà không làm hơn thế) có thể tìm ra câu trả lời.
    3. Cho điều kiện để bắt buộc họ phải tự đứng vững và nương tựa vào chính linh hồn mình mà không phải vào bất cứ ai khác, dù là bạn, là thầy, hay vị Chân sư Minh triết.
    Người chí nguyện cần làm các điều sau:
    ● Đặt ý tưởng và ao ước riêng của mình sau lợi ích của nhóm
    ● Đừng chú tâm vào mình mà hướng tầm mắt về viễn ảnh,
    ● Canh giữ miệng lưỡi để không nói lời tầm phào và chỉ trích, ngồi lê đôi mách và nói bóng gió,
    ● Đọc và học hỏi để việc làm tiến hành một cách thông minh.
    Họ có thể góp sức vào công việc khó nhọc của những Đấng Cao Cả, các ngài làm việc ngày đêm mong giảm bớt khổ nàn cho nhân loại, và đảo ngược những điều ác cùng tai ương  đang đe dọa con người. Đây là cơ hội cho tất cả, và mỗi người đều được cần đến dù khả năng ít oi ra sao. Khi các nhóm phụng sự làm việc hòa hợp trong tình hữu ái sâu xa với nhau không suy giảm, họ có thể đạt được thành quả đáng  kể.

    Các Nỗi Sợ Hãi.
    Khi làm việc, những người chí nguyện có hai nỗi sợ hãi mà họ đặc biệt quan tâm, là sợ dư luận và sợ không thành công, ta sẽ lần lượt xem xét chúng và cách giải trừ.
    1. Ai mới bắt đầu làm việc với thiên cơ và học ý nghĩa của phụng sự, thường hay sợ là  chuyện họ làm  sẽ bị chỉ trích và phán đoán sai, hoặc nghĩ điều ngược lại là việc làm ấy sẽ không được ưa thích, quí chuộng và hiểu đúng mức. Họ đòi hỏi có sự ưa thích và ngợi khen, đo lường mức thành công bằng con số và bằng đáp ứng. Họ không thích động cơ của mình bị mổ xẻ và phê phán, và hấp tấp lên tiếng biện minh; họ không vui nếu phương pháp, thành viên trong nhóm của họ bị phê bình.
    Mục tiêu sai lạc là con số, thế lực hay triết lý theo kinh điển kềm chế họ. Họ không vui trừ phi điều họ làm đạt tới tiêu chuản hay thuận theo các nhóm khác chung quanh, khiến những người này  thích thú. Vì lẽ đó họ thường thay đổi kế hoạch, quan điểm của mình, hạ thấp tiêu chuẩn cho đến khi nó phù hợp với tâm lý chung (tức đi tìm mẫu số chung và thường là mức thấp nhất).
    Đối nghịch lại, người phụng sự chân thực có viễn kiến, rồi tìm cách hòa hợp với linh hồn mình  để an trụ vững vàng trong thực hiện viễn kiến ấy. Anh nhắm đến việc hoàn thành điều mà quan điểm của thế giới cho là bất khả, biết rằng viễn kiến không thành hình khi làm theo đề nghị nhắm tới lợi lộc cõi trần hay nặng về trí tuệ. Khi thấy là lời khuyên  có tính  chia rẽ và có khuynh hướng không hòa thuận, thiếu tình huynh đệ và thông cảm, họ sẽ lập tức bác bỏ nó. Khi thấy là có thái độ chỉ trích thường xuyên người khác trong  việc phụng sự chung, và khi thấy chỉ có lòng ích kỷ, tâm tánh bắt lỗi, tin vào điều xấu, gán cho hậu ý không lành, người chí nguyện chân thực không để cho mình bị ảnh hưởng và thản  nhiên đi theo đường của anh.
    Việc phụng sự chân thực chỉ được thực hiện bởi những ai không có thái độ chia rẽ, và giữ gìn để không thốt lời ác; đó là những người nhận ra tính thiêng liêng trong mọi sinh linh, không nghĩ bậy và lặng thinh làm việc. Họ không xen vào chuyện riêng người khác, không tiết lộ điều gì không phải là chuyện của họ. Đời sống họ có đặc tính là thương yêu và thông cảm; họ có ý thức tinh thần, với trí tuệ sắc bén đi kèm tâm thương yêu.
    Đây là những người mở đầu Tân Kỷ Nguyên, họ đã học được bí mật của sự lặng thinh, được gợi hứng không ngừng  do tình thương bao trùm không phân biệt, miệng lưỡi không thốt lời chỉ trích tầm thường, và không lên án kẻ khác mà luôn có tinh thần bảo bọc.
    Người chưa đạt tới mức tiến hóa này và viễn kiến chưa rõ ràng, cá tính chưa vào khuôn phép vẫn làm được chuyện quan trọng ở mức thấp hơn, và làm việc với ai cùng trình độ. Đặc tính của họ khiến họ đến với ai giống mình, và không làm việc lẻ loi, có thành công bề ngoài nhiều hơn tuy không phải luôn luôn được vậy.
    Ta phân tích đặc tính của hai nhóm tuy nhiên điều cần nhớ là dưới mắt các Đấng Cao Cả mọi nỗ lực đều quan trọng như nhau. Ai đang ở mức mà gia đình hay công việc văn phòng cho đầy đủ kinh nghiệm thì đó là nỗ lực tột cùng của họ; gắng công của họ ở mức ấy thì cũng lớn lao như thành quả của một đấng Cứu thế hay một Napoléone. Lời khuyên là đừng quên điều ấy, và cố công nhìn sự sống đúng thực thay vì theo sự cao thấp do con người đặt ra và nguy hiểm. Người chí nguyện mà chưa có viễn kiến trọn vẹn như  của ai nhiều kinh nghiệm hơn, và ai chỉ mới học ABC của việc phụng sự thì dù có thất bại và khờ khạo thế mấy, họ cũng đóng góp hữu ích như ai khôn ngoan có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm.
    2. Nỗi sợ hãi thứ hai là sợ thất bại, đây là thử thách lớn cho ai nhậy cảm. Nó sinh ra do kinh nghiệm quá khứ (vì ai cũng đã từng thất bại), do ý thức về nhu cầu và cơ hội, và do nhận biết rõ ràng về giới hạn và yếu kém của mình. Những điều này hợp lý tuy nhiên ấy là việc phí thì giờ đáng kể cho người phụng sự lo nghĩ về sự thất bại hay gục ngã. Bởi không có gì là thất bại mà chỉ có thể có việc mất thời gian. Điều sau nghiêm trọng khi ta có nhu cầu cấp bách, nhưng chắc chắn có  ngày ta sẽ thành công và cứu vớt lại thất bại khi xưa.
    Cũng như ta không nên lo ngại về thất bại - có thực hay không - của bạn trong nhóm. Cảm nhận về thời gian sinh ra ảo ảnh và thất vọng, còn công việc thì vẫn tiến hành. Hãy tự hỏi vài năm chậm trễ thì là bao so với thời đại hằng ngàn năm ? hay vài phút thì là bao lăm trong đời người bẩy, tám chục tuổi ? Với ai trong cuộc chuyện dường như hết sức quan trọng, còn với linh hồn nhìn ngắm thì dường như  nó không là gì cả.
    Vậy có lời khuyên nghịch lý là hãy nhiệt tâm làm việc, mà cùng lúc đừng làm việc với nhiệt tâm như thế, và đừng quá coi trọng mình ! Để hóa giải điều sau, bạn đừng mất thì giờ tự phân tích không ngừng. Mặt khác nhiều người không có óc hài hước nên đây là tính đáng được nuôi dưỡng.
    Để kết thúc thì mục tiêu tức thì cho mọi của chí nguyện có thể ghi như sau:
    ● Có tư tưởng minh bạch về mục tiêu phụng sự của mình, thực hiện bằng cách tham thiền.
    ● Phát triển sự nhậy cảm với các động lực mới đang tuôn tràn vào thế giới hiện nay, ta làm điều này bằng cách thương yêu, thông cảm mọi người nhiều hơn. Tình thương làm lộ ra điều chi bí ẩn.
    ● Phụng sự với lòng hoàn toàn xả kỷ, có được do loại trừ  tham vọng cá nhân và lòng ưa thích quyền lực.
    4. Không để ý tới dư luận hay sự thất bại, bằng cách chú ý chặt chẽ vào tiếng nói của linh hồn, và gắng công luôn an trú nơi cao nhất.Luật  Phụng Sự

    Phụng sự  là một đặc tính của linh hồn hay chân nhân, nó quản trị mọi sinh hoạt của linh hồn. Dầu vậy tùy mức phát triển mà có nhiều cách hiểu luật này, phần dưới đây ta cố gắng tìm hiểu luật theo quan điểm của chân nhân, và do vậy sẽ khác phần nào với quan điểm thông thường.
    ● Thứ nhất, những tiếp xúc có được khi việc tham thiền và sự thành công của ta được xác định bằng việc  phụng sự tiếp theo đó, bởi nếu có hiểu biết đúng đắn thì đương nhiên sẽ dẫn tới hành động đúng đắn.
    ● Thứ hai, luật này là điều không sao tránh được, và việc cố tình tránh né mang lại sự trừng phạt. Khả năng phụng sự đánh dấu một mức tiến bộ rõ rệt trên đường Đạo, và khi chưa đạt tới mức ấy, việc phụng sự tự nhiên làm do lòng yêu thương và được minh triết hướng dẫn, chưa thể có được, mà điều hay thấy từ trước tới lúc ấy là thiện ý, động cơ lẫn lộn và thường khi có lòng cuồng tín.
    Luật này là sự áp đặt các năng lực và động lực phát ra từ chòm sao Bảo Bình (Aquarius) mà ta đang tiến vào lên nhịp của trái đất, và do vậy sẽ phải xẩy ra. Việc khối đông dân chúng tại vài nước bị cưỡng bức sống vào khuôn khổ chung là ảnh hưởng của luật, khiến cho cá nhân phục vụ tập thể qua việc bị ép phải làm ngơ cái tôi của mình. Tư tưởng riêng, sự an lạc cá nhân và luôn cả bản thể của họ trở thành thứ yếu so với  tập thể.
    Đây là một trong những cách biểu lộ thấp nhất của luật trong tâm thức con người, và theo cái nhìn của sự phát triển linh hồn thì con người trở nên tương đối  vô dụng. Bởi họ bị ép buộc phải phục tòng theo điều kiện của khối đông dù muốn hay không muốn. Với cách biểu lộ cao nhất, ta có việc phụng sự của các Chân sư cho mọi loài trong thiên nhiên trên địa cầu. Có sự phân biệt lớn lao giữa hai thái cực này, nhưng cả hai đều diễn ra do việc đáp ứng với luật phụng sự, một đằng là thực hiện nó hữu ý, và đằng khác là bị chỉ định vô thức.
    ● Thứ ba, luật được đức Chúa (đức Di Lặc) thể hiện trọn vẹn hai ngàn năm về trước. Ngài là người tiền phong cho kỷ nguyên Bảo Bình và ta thấy điều này qua việc ngài luôn nhấn mạnh tới sự kiện ngài là ‘nước của sự sống’, là ‘nước sống động’ mà nhân loại cần. Thời Song Ngư (Pisces) đang tàn đã chuẩn bị hết sức chậm chạp mở đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của việc phụng sự, điểu vinh quang sẽ đến trong những thể kỷ tới. Dấu hiệu của việc ấy là ngày nay, người trên thế giới đang dần ý thức, và nói tới ý niệm rằng ‘không ai sống một mình’.
    Hình ảnh của kỷ nguyên Bảo Bình hay được vẽ là người vác trên vai bình nước đầy tới nỗi nước trào ra lênh láng mà không hề cạn. Biểu tượng của luật phụng sự rất giống vậy, chỉ có khác biệt là con người đứng thẳng, hoàn toàn thăng bằng theo hình thánh giá, với cánh tay giang rộng và bình nước đội đầu. Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa đáng nói.
    Bình nước đặt trên vai là dấu hiệu gánh nặng của chuyện phụng sự, phụng sự là việc không dễ. Con người ngày nay chỉ mới bắt đầu học cách phụng sự. Còn hình ảnh bình nước trên đầu người đã ở trên thánh giá hy sinh quá lâu đến mức tư thế ấy trở thành hết sức tự nhiên đối với họ, cho biết thánh giá ấy từng nâng đỡ họ biết bao lâu, nay đã biến mất. Con người với bình nước trên đầu muốn nói là họ đã đạt tới sự quân bình, vững chãi và thăng bằng.
    Phụng sự thường được diễn giải như là việc hết sức đáng ước ao, mà người ta ít khi nhận thức là thực ra ấy là chuyện rất khó. Nó đòi hỏi có nhiều hy sinh về thời giờ, sự quan tâm và tư tưởng riêng của một người, vì nó cần nỗ lực có chủ ý, chủ tâm sáng suốt và khả năng làm việc mà không bị ràng buộc. Tất cả là các đặc tính mà người chí nguyện trung bình khó có được, thế nhưng ngày nay đa số người trên thế giới có khuynh hướng muốn phụng sự. Được như vậy là sự thành công của cuộc tiến hóa.
    Phụng sự thường được xem như là nỗ lực làm người chung quanh chấp nhận quan điểm của người phụng sự, vì điều gì người sau thấy đúng, chân thật và hữu ích thì nhất thiết phải đúng, chân thật và hữu ích cho mọi ai khác. Phụng sự được quan niệm là điều gì đó ta làm cho của nghèo, người khuyết tật, ai đau ốm và ai đau khổ, và ta nghĩ ta muốn giúp họ mà ít nhận ra là sự giúp đỡ này được đưa ra trước hết là vì tình trạng khó khăn của họ làm ta không cảm thấy thoải mái, và như thế phải nỗ lực cải thiện tình trạng hầu làm ta thoải mái trở lại. Hành động vì vậy giúp ta tránh được sự chán chường, ngay cả khi ta không làm nhẹ bớt hay giải trừ cho ai bị đau khổ.
    Phụng sự thường được xem là dấu hiệu của ai bận rộn và linh hoạt quá mức, hay ai có tánh tự mãn, dẫn tới việc người như thế có nỗ lực to lớn để thay đổi tình thế, làm chúng trở thành điều mà họ nghĩ chúng phải vậy, tức ép buộc người khác qui thuận theo điều mà người phụng sự  nghĩ là phải có. Hoặc việc phụng sự  có thể sinh ra do ước vọng cuồng tín, muốn đi theo chân đức Chúa, noi gương ngài làm lành. Con người do đó phụng sự vì vâng lời mà không phải tự nhiên muốn hướng tới ai cần trợ giúp.
    Theo cách ấy, hành động không có tính chất thiết yếu của việc phụng sự, và ngay từ đầu ta không làm gì hơn là chỉ có vài cử chỉ. Tương tự vậy thì phụng sự cũng có thể sinh ra do ước vọng sâu kín muốn đạt sự toàn thiện tâm linh. Ý hay thấy là phụng sự được xem như là một trong các đặc tính cần thiết của người đệ tử, vậy thì nếu ai là đệ tử thì bắt buộc họ phải phụng sự. Lý thuyết này đúng nhưng không có bản chất sống động của việc phụng sự. Nó chân thực và đáng khen, nhưng động cơ nằm đằng sau thì lại hoàn toàn sai lầm.

    Các Nguy Hiểm
    Có ba điểm nguy hiểm chính trong khi phụng sự, tâm tính một ai, tình cảm, thể chất, trí tuệ của họ đều có  ảnh hưởng lên khung cảnh chung quanh và những người quanh họ, cũng như là giáo dục gia đình, và lời nói của họ.
    ● Nguy hiểm đầu tiên là sức khỏe mỗi người. Lẽ tự nhiên ta cần có sức khỏe để làm việc giỏi dang, khi thiếu sức khỏe thì chẳng những ta phải lệ thuộc nhiều hơn vào thân xác, mà đồng thời không thể phụng sự như ý. Ai cũng biết các chăm sóc tối thiểu cho sức khỏe như ăn đúng cách tùy theo nhu cầu mỗi người, ngủ đủ nên không cần bàn nhiều ở đây. Mặc khác khi tu tập con người sẽ thu hút vào nhiều năng lực mà anh chưa quen, dễ gây căng thẳng và lo lắng, nên rất cần sức khỏe để sử dụng chúng, giữ não cân được an nhiên.
    ● Nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo ảnh cõi trung giới mà tất cả nhân loại đang sống trong đó, ngay cả ai nhiều kinh nghiệm cũng bị ảo ảnh chi phối. Bởi đây là hiện tượng  cõi trung giới và tác động chính lên thể tình cảm, theo nguyên tắc muốn giải quyết việc thấp thì phải dùng năng lực cao hơn, chỉ có làm chủ trí não và có cảm nhận tinh thần chân thực mới đủ để xuyên thấu màn ảo ảnh, và cho thấy rằng ta là thực thể tinh thần sinh hoạt trong thân xác, và là một với Đại Hồn.
    Với ai cứ để mình chìm đắm trong ảo ảnh thì hệ quả thật rõ ràng. Viễn kiến của họ trở thành mờ mịt và mất ý niệm với thực tại, không thấy con đường thẳng đưa anh tới mục tiêu.
    ● Nguy hiểm thứ ba là điều hay gặp trong thời đại này, ấy là niềm kiêu hãnh  tinh thần, với hệ quả là ai như vậy không thể làm việc trong nhóm. Người ta có thể có thành công tạm thời nhưng rồi phải làm việc với nhóm bị thiếu sinh lực do việc những thành viên giỏi nhất đã bỏ đi, và chỉ còn lại những người nuôi dưỡng cái tôi của ai lãnh đạo nhóm. Do việc nhấn mạnh vào ý tưởng và phương pháp làm việc riêng  của mình, kẻ đứng đầu nhóm có thể thấy nhóm anh thiếu các yếu tố và thành viên làm nhóm  đa dạng,  đầy đủ, những ai làm quân bình nỗ lực của anh, đóng góp vào nhóm các tính chất, tài năng mà tự anh thiếu.
    Tình trạng này tự nó đủ là sự trừng phạt cho anh, và mau lẹ làm ai phụng sự thật lòng tỉnh ngộ. Ai thông minh, thành thật và chân tình có thể bị sai làm như thế và theo với thời gian sẽ bừng tỉnh với sự kiện là nhóm mà anh tụ tập quanh mình nhào nặn anh cũng như anh nhào nặn họ, các nhóm viên thường khi  là thể hiện của anh và  lập lại anh. Như đã có ghi trước đây, khi một ai quyết chí đi trên đường Đạo, luật sẽ tác động nhanh hơn cho anh so với ai khác, vậy hệ quả sẽ mau lẹ tới và anh cũng phải lẹ làng điểu chỉnh lại tình trạng.
    Một điều có thể làm phấn khởi ai phụng sự là câu nói rằng không có một nhiệt tâm mà không được nhận biết. Anh được theo dõi và mỗi hành vi thân ái, mỗi tư tưởng khát khao và mỗi phản ứng không ích kỷ đều được ghi nhận và biết đến. Dầu vậy, ta cũng nên ghi thêm sự cảm nhận này có được qua làn rung động gia tăng nơi người chí nguyện, mà không phải do biết chuyện họ làm, hay tư tưởng gửi đi. Các vị thầy chú trọng vào những nguyên tắc của chân lý, vào mức rung động và phẩm chất của ánh sáng (tức hào quang) phát ra nơi người phụng sự. Ngài không ý thức, hay có thì giờ để xem xét hành vi, lời nói, và tình trạng đặc biệt nào; và chúng ta nắm vững điều này sớm chừng nào, cùng gạt bỏ khỏi tâm trí bất cứ hy vọng nào được tiếp xúc vị gọi là Chân sư, để ngài bỏ giờ quan tâm đến chuyện không đáng của mình, thì ta càng tiến mau chừng ấy.
    Kế đó, khi có sự tăng trường đều đặn, có việc áp dụng các nguyên lý huyền bí sinh ra thay đổi rõ rệt trong các thể, và ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ hơn (là hào quang), những điều này được biết và ghi nhận và người phụng sự được thưởng, bằng cách có cơ hội nhiều hơn để làm việc giúp đỡ đồng loại mình. Các ngài không thưởng bằng lời khen, bằng cái xoa đầu, hay lời khen ngợi.  Các ngài làm con người trở thành kẻ hiểu biết và bậc thầy bằng những cách sau:
    1. Dạy con người biết chính mình.
    2. Làm cho họ được tự do thoát khỏi thẩm quyền  (xin đọc Cách Đọc Sách, PST 67) bằng cách gợi nên sự ưa thích và thắc mắc trong tâm trí họ, và chỉ hướng (mà không làm hơn thế) có thể tìm ra câu trả lời.
    3. Cho điều kiện để bắt buộc họ phải tự đứng vững và nương tựa vào chính linh hồn mình mà không phải vào bất cứ ai khác, dù là bạn, là thầy, hay vị Chân sư Minh triết.
    Người chí nguyện cần làm các điều sau:
    ● Đặt ý tưởng và ao ước riêng của mình sau lợi ích của nhóm
    ● Đừng chú tâm vào mình mà hướng tầm mắt về viễn ảnh,
    ● Canh giữ miệng lưỡi để không nói lời tầm phào và chỉ trích, ngồi lê đôi mách và nói bóng gió,
    ● Đọc và học hỏi để việc làm tiến hành một cách thông minh.
    Họ có thể góp sức vào công việc khó nhọc của những Đấng Cao Cả, các ngài làm việc ngày đêm mong giảm bớt khổ nàn cho nhân loại, và đảo ngược những điều ác cùng tai ương  đang đe dọa con người. Đây là cơ hội cho tất cả, và mỗi người đều được cần đến dù khả năng ít oi ra sao. Khi các nhóm phụng sự làm việc hòa hợp trong tình hữu ái sâu xa với nhau không suy giảm, họ có thể đạt được thành quả đáng  kể.
    Các Nỗi Sợ Hãi.
    Khi làm việc, những người chí nguyện có hai nỗi sợ hãi mà họ đặc biệt quan tâm, là sợ dư luận và sợ không thành công, ta sẽ lần lượt xem xét chúng và cách giải trừ.
    1. Ai mới bắt đầu làm việc với thiên cơ và học ý nghĩa của phụng sự, thường hay sợ là  chuyện họ làm  sẽ bị chỉ trích và phán đoán sai, hoặc nghĩ điều ngược lại là việc làm ấy sẽ không được ưa thích, quí chuộng và hiểu đúng mức. Họ đòi hỏi có sự ưa thích và ngợi khen, đo lường mức thành công bằng con số và bằng đáp ứng. Họ không thích động cơ của mình bị mổ xẻ và phê phán, và hấp tấp lên tiếng biện minh; họ không vui nếu phương pháp, thành viên trong nhóm của họ bị phê bình.
    Mục tiêu sai lạc là con số, thế lực hay triết lý theo kinh điển kềm chế họ. Họ không vui trừ phi điều họ làm đạt tới tiêu chuản hay thuận theo các nhóm khác chung quanh, khiến những người này  thích thú. Vì lẽ đó họ thường thay đổi kế hoạch, quan điểm của mình, hạ thấp tiêu chuẩn cho đến khi nó phù hợp với tâm lý chung (tức đi tìm mẫu số chung và thường là mức thấp nhất).
    Đối nghịch lại, người phụng sự chân thực có viễn kiến, rồi tìm cách hòa hợp với linh hồn mình  để an trụ vững vàng trong thực hiện viễn kiến ấy. Anh nhắm đến việc hoàn thành điều mà quan điểm của thế giới cho là bất khả, biết rằng viễn kiến không thành hình khi làm theo đề nghị nhắm tới lợi lộc cõi trần hay nặng về trí tuệ. Khi thấy là lời khuyên  có tính  chia rẽ và có khuynh hướng không hòa thuận, thiếu tình huynh đệ và thông cảm, họ sẽ lập tức bác bỏ nó. Khi thấy là có thái độ chỉ trích thường xuyên người khác trong  việc phụng sự chung, và khi thấy chỉ có lòng ích kỷ, tâm tánh bắt lỗi, tin vào điều xấu, gán cho hậu ý không lành, người chí nguyện chân thực không để cho mình bị ảnh hưởng và thản  nhiên đi theo đường của anh.
    Việc phụng sự chân thực chỉ được thực hiện bởi những ai không có thái độ chia rẽ, và giữ gìn để không thốt lời ác; đó là những người nhận ra tính thiêng liêng trong mọi sinh linh, không nghĩ bậy và lặng thinh làm việc. Họ không xen vào chuyện riêng người khác, không tiết lộ điều gì không phải là chuyện của họ. Đời sống họ có đặc tính là thương yêu và thông cảm; họ có ý thức tinh thần, với trí tuệ sắc bén đi kèm tâm thương yêu.
    Đây là những người mở đầu Tân Kỷ Nguyên, họ đã học được bí mật của sự lặng thinh, được gợi hứng không ngừng  do tình thương bao trùm không phân biệt, miệng lưỡi không thốt lời chỉ trích tầm thường, và không lên án kẻ khác mà luôn có tinh thần bảo bọc.
    Người chưa đạt tới mức tiến hóa này và viễn kiến chưa rõ ràng, cá tính chưa vào khuôn phép vẫn làm được chuyện quan trọng ở mức thấp hơn, và làm việc với ai cùng trình độ. Đặc tính của họ khiến họ đến với ai giống mình, và không làm việc lẻ loi, có thành công bề ngoài nhiều hơn tuy không phải luôn luôn được vậy.
    Ta phân tích đặc tính của hai nhóm tuy nhiên điều cần nhớ là dưới mắt các Đấng Cao Cả mọi nỗ lực đều quan trọng như nhau. Ai đang ở mức mà gia đình hay công việc văn phòng cho đầy đủ kinh nghiệm thì đó là nỗ lực tột cùng của họ; gắng công của họ ở mức ấy thì cũng lớn lao như thành quả của một đấng Cứu thế hay một Napoléone. Lời khuyên là đừng quên điều ấy, và cố công nhìn sự sống đúng thực thay vì theo sự cao thấp do con người đặt ra và nguy hiểm. Người chí nguyện mà chưa có viễn kiến trọn vẹn như  của ai nhiều kinh nghiệm hơn, và ai chỉ mới học ABC của việc phụng sự thì dù có thất bại và khờ khạo thế mấy, họ cũng đóng góp hữu ích như ai khôn ngoan có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm.
    2. Nỗi sợ hãi thứ hai là sợ thất bại, đây là thử thách lớn cho ai nhậy cảm. Nó sinh ra do kinh nghiệm quá khứ (vì ai cũng đã từng thất bại), do ý thức về nhu cầu và cơ hội, và do nhận biết rõ ràng về giới hạn và yếu kém của mình. Những điều này hợp lý tuy nhiên ấy là việc phí thì giờ đáng kể cho người phụng sự lo nghĩ về sự thất bại hay gục ngã. Bởi không có gì là thất bại mà chỉ có thể có việc mất thời gian. Điều sau nghiêm trọng khi ta có nhu cầu cấp bách, nhưng chắc chắn có  ngày ta sẽ thành công và cứu vớt lại thất bại khi xưa.
    Cũng như ta không nên lo ngại về thất bại - có thực hay không - của bạn trong nhóm. Cảm nhận về thời gian sinh ra ảo ảnh và thất vọng, còn công việc thì vẫn tiến hành. Hãy tự hỏi vài năm chậm trễ thì là bao so với thời đại hằng ngàn năm ? hay vài phút thì là bao lăm trong đời người bẩy, tám chục tuổi ? Với ai trong cuộc chuyện dường như hết sức quan trọng, còn với linh hồn nhìn ngắm thì dường như  nó không là gì cả.
    Vậy có lời khuyên nghịch lý là hãy nhiệt tâm làm việc, mà cùng lúc đừng làm việc với nhiệt tâm như thế, và đừng quá coi trọng mình ! Để hóa giải điều sau, bạn đừng mất thì giờ tự phân tích không ngừng. Mặt khác nhiều người không có óc hài hước nên đây là tính đáng được nuôi dưỡng.
    Để kết thúc thì mục tiêu tức thì cho mọi của chí nguyện có thể ghi như sau:
    ● Có tư tưởng minh bạch về mục tiêu phụng sự của mình, thực hiện bằng cách tham thiền.
    ● Phát triển sự nhậy cảm với các động lực mới đang tuôn tràn vào thế giới hiện nay, ta làm điều này bằng cách thương yêu, thông cảm mọi người nhiều hơn. Tình thương làm lộ ra điều chi bí ẩn.
    ● Phụng sự với lòng hoàn toàn xả kỷ, có được do loại trừ  tham vọng cá nhân và lòng ưa thích quyền lực.
    4. Không để ý tới dư luận hay sự thất bại, bằng cách chú ý chặt chẽ vào tiếng nói của linh hồn, và gắng công luôn an trú nơi cao nhất.

    Diệt Đa Cấp Bất Chính: Cần Phạt Thật Nặng!

    Đa cấp núp bóng từ thiện
    Công ty CP Thương mại Nano (P307 - 312, Tòa nhà Machico 1, 10 Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội) lập Quỹ Tấm lòng vàng, lôi kéo người tham gia ủng hộ với mức 2.000.000 đồng/tháng, được gọi là Cộng tác viên kinh doanh. Người tham gia được bán sản phẩm thực phẩm chức năng của công ty, bắt buộc duy trì doanh số và giới thiệu người gửi ký quỹ với lãi suất 3,2 - 3,5%/tháng. Cộng tác viên giới thiệu thành viên mới sẽ được thưởng với chế độ trả thưởng theo sơ đồ 3 chân. Để nhận thưởng, tháng thứ nhất cộng tác viên phải giới thiệu ít nhất 3 người mới.
    Điều kiện thưởng gián tiếp là khi xuất hiện tầng dưới tuyển dụng thành công 3 người, hoặc cộng tác viên phải tiếp tục ủng hộ để duy trì cơ hội kinh doanh.
    Công ty này bắt buộc cộng tác viên không được lấy lại số tiền đã ủng hộ, không được làm khó công ty, và không được khiếu kiện công ty. 
    Hơn nữa người tham gia không được thắc mắc bất kỳ điều gì trong khi thực tế quỹ từ thiện này lại không có bất kỳ thông tin giới thiệu cũng như chương trình hoạt động nào.
    Các nhà phân phối, đại lý của công ty này đều được quyền tham gia mô hình khai thác quỹ Tấm lòng Vàng để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm.

    Xử lý không triệt để đa cấp bất chính sẽ dẫn đến tình trạng “chặt đầu này lại mọc đầu khác”.

    Global Online Systems Inc (GOLS) - công ty kinh doanh đa cấp sản phẩm của Herbalife tại Vancouver (Canada) - từng bị tố cáo kinh doanh bất chính và bị phạt 150.000 USD. (Ảnh minh họa)

    Trao đổi với , TS Nguyễn Ngọc Sơn, Trưởng khoa Luật ĐH Tôn Đức Thắng, cho rằng Việt Nam cần phải nhanh chóng rà soát lại, làm rõ tên và nội hàm các hành vi kinh doanh đa cấp bất chính. Những điều nào không còn phù hợp nữa thì nên mạnh dạn bỏ đi.

    Trục lợi từ những kẽ hở pháp luật

    Theo Tiến sĩ, vì sao hiện tượng biến tướng của bán hàng đa cấp lại có điều kiện để phát sinh ngày một nhiều?

    Cách đây 10 năm, ngay từ khi Luật Cạnh tranh được ban hành và chính thức có hiệu lực, các hiện tượng biến tướng trong kinh doanh đa cấp đã xuất hiện. Chúng ta cũng đã tham khảo xây dựng điều luật quản lý kinh doanh đa cấp theo mô hình của nước ngoài nhưng chưa thể lường trước hết những hình thức biến tướng mới ở Việt Nam.

    Hiện nay chúng ta vẫn chưa xử lý mạnh tay và đến nơi đến chốn các hình thức kinh doanh đa cấp bất chính. Việc quản lý kinh doanh đa cấp có thể chia làm hai giai đoạn là đăng ký hoạt động và xử lý vi phạm. Đối với giai đoạn đầu tiên là cho đăng ký hay không cho đăng ký bán hàng đa cấp, Việt Nam đã và đang làm rất tốt. Tuy nhiên, khi nói đến các cơ chế phát hiện và xử lý vi phạm, phía Việt Nam vẫn chưa đủ mạnh tay.

    Hiện tại cơ chế kiểm tra hoạt động kinh doanh đa cấp vẫn còn theo phương thức truyền thống là lấy thông tin và phải thông báo trước cho doanh nghiệp (DN) khi tiến hành kiểm tra; không thể áp dụng phương pháp kiểm tra đột xuất. Trong khi đó, các DN đa cấp hiện nay đủ thông minh để trục lợi từ những kẽ hở của pháp luật.

    Tính đặc thù trong kinh doanh đa cấp cũng khiến cơ chế phát hiện và xử lý như hiện nay gặp phải nhiều khó khăn. Người tham gia hoạt động đa cấp mang tính chất độc lập so với DN. DN có thể dễ dàng cho phép họ tham gia vào mô hình với tư cách cá nhân, chỉ như một người cộng tác với DN.

    Vì vậy khi người tham gia vào mô hình kinh doanh đa cấp có hành vi bất chính như đưa thông tin gian dối để thành lập mạng lưới cấp dưới, bán các sản phẩm kém chất lượng, lừa khách hàng… thì DN kinh doanh đa cấp vẫn có thể phủi sạch trách nhiệm và đổ lỗi lên người tham gia. Trước khả năng sinh lợi cao thông qua kinh doanh đa cấp, những toan tính bất chính luôn nhanh chóng phát sinh và tạo ra các hình thức mới để thỏa lòng tham về thu nhập.

    Một đợt truy quét các thành viên bán hàng đa cấp tại Côn Minh, Trung Quốc vào tháng 5/2015. Nguồn: Wangyi (Ảnh minh họa)

    Rút giấy phép chưa ăn thua gì

    Tiến sĩ có thể chia sẻ luật pháp của một số quốc gia tiêu biểu quản lý vấn đề đa cấp như thế nào để có thể tránh được những hiện tượng biến tướng như tại Việt Nam hiện nay?

    + Cơ chế quản lý kinh doanh đa cấp tại Việt Nam chủ yếu kế thừa từ khu vực Bắc Mỹ mà chủ yếu là Canada. Ở nước ngoài vẫn tồn tại hình thức kinh doanh đa cấp bất chính nhưng cơ chế thi hành xử lý vi phạm mạnh hơn Việt Nam. Cơ quan chuyên trách thực sự có quyền lực giúp phát hiện và xử lý các đối tượng kinh doanh đa cấp trái pháp luật. Họ có khả năng phối hợp với lực lượng cảnh sát kinh tế tiến hành những cuộc điều tra đột xuất bất ngờ khiến các DN bất chính không kịp trở tay che đậy dấu vết sai phạm. Quan trọng hơn hết, các cơ quan xử lý có thể đưa ra mức tiền phạt đủ mạnh để gây thiệt hại về kinh tế đủ lớn buộc DN phải đóng cửa ngưng hoạt động.

    Trong khi đó tại Việt Nam, nếu chưa đủ nghiêm trọng để truy tố trách nhiệm hình sự, cơ quan quản lý chỉ có thể ra quyết định rút giấy phép kinh doanh đa cấp. Điều này thật sự không đủ mạnh tay để buộc DN có hành vi bất chính phải dừng hoạt động. DN sau khi bị rút giấy phép vẫn có thể dễ dàng đăng ký lại với một danh tính khác. Cách xử lý còn có phần nhẹ tay này tạo nên tình thế “chặt đầu này lại mọc đầu khác” đối với các DN kinh doanh đa cấp vi phạm pháp luật.

    Một điểm khác biệt nữa là các quốc gia Bắc Mỹ có các cơ chế bảo vệ người tiêu dùng chặt chẽ hơn tại Việt Nam. Các quốc gia này có yêu cầu kỹ thuật cao đối với sản phẩm được phép bán trên thị trường. Các loại hàng giả, hàng kém chất lượng có các thông tin sai lệch khó có thể tồn tại. Do đó DN kinh doanh đa cấp khó lừa dối khách hàng.

    Việt Nam cần phải có những chỉnh sửa như thế nào để có thể quản lý tốt hơn hoạt động kinh doanh đa cấp, hạn chế những hình thức biến tướng gây hại cho người dân?

    + Cùng theo đó, cơ quan quản lý cần phải đẩy mạnh việc thắt chặt quản lý về chất lượng sản phẩm trên thị trường, bảo vệ người tiêu dùng để ngăn chặn các DN đa cấp bán hàng hóa kém chất lượng lừa đảo người tiêu dùng.

    Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng một hệ thống điều tra bán hàng đa cấp thật sự mạnh tay. Trong đó, cơ quan chuyên trách không chỉ làm tốt trong việc buộc DN đăng ký bán hàng đa cấp mà còn phải có khả năng điều tra phát hiện và xử lý vi phạm hoạt động đa cấp bất chính một cách triệt để và rộng khắp. Họ phải được trao khả năng yêu cầu những cơ quan an ninh phối hợp điều tra và xử lý vi phạm, có quyền tiến hành các cuộc điều tra và thanh tra đột xuất những DN bị tình nghi.

    Một trong những giải pháp trước mắt có thể thực hiện là hủy bỏ yêu cầu người tố cáo kinh doanh đa cấp phải nộp tạm ứng khoản phí giải quyết là 10 triệu đồng, được quy định trong Luật Cạnh tranh. Những người bị lôi kéo, lừa gạt vào mạng lưới đa cấp bất chính khi muốn tố cáo thường sẽ bị chùn chân khi nhìn thấy mức phí này. Việc loại bỏ khoản phí tạm ứng này trong Luật Cạnh tranh có thể giúp các nạn nhân của những mạng lưới đa cấp bất chính mạnh dạn tố cáo hơn.

    Xử phạt đa cấp bất chính ở các nước

    Ở Singapore, trong quá trình rà soát luật về kinh doanh đa cấp (Multi-level marketing - MLM Act) năm 2000, mức phạt cho việc xâm phạm luật này đã được nâng từ 30.000 USD lên 200.000 USD hoặc bị phạt tù không quá năm năm, hoặc có thể chịu cả hai hình phạt trên. Hình phạt này được áp dụng cho các hành vi khuyến khích và tham gia kinh doanh đa cấp, kinh doanh dạng kim tự tháp; đăng ký thành lập DN để thúc đẩy mô hình kinh doanh đa cấp, kinh doanh kim tự tháp, thành lập công ty với mục đích thúc đẩy kinh doanh đa cấp, kinh doanh kim tự tháp.

    Công ty kinh doanh đa cấp sản phẩm Herbalife có trụ sở ở Vancouver (Canada) - Global Online Systems Inc (GOLS) bị phạt 150.000 USD với hai tội danh theo các điểu khoản kinh doanh lừa đảo của Luật Cạnh tranh. Sau khi nhận tội, GOLS đã ký vào Lệnh cấm (Prohibition Order) trình lên tòa án liên bang Canada. Theo đó, GOLS và hai giám đốc Deborah Jane Stoltz và Marilyn Thom đã đồng ý nộp phạt, kê khai mức thu nhập thực sự của các nhân viên của công ty, thông báo cho tất cả nhà phân phối và nhân viên công ty về vụ việc và không được tham gia bất kỳ hoạt động kinh doanh nào về hình thức kinh doanh đa cấp dù trực tiếp hay gián tiếp.

    Trung Quốc cấm tiệt đa cấp

    Năm 2005, chính quyền Trung Quốc đã ban hành một đạo luật quy chế bán hàng trực tiếp và quy định cấm về kinh doanh đa cấp. Với đạo luật này, Trung Quốc khẳng định không chấp nhận hình thức kinh doanh đa cấp tại nước này. Theo trang China Briefing, chính quyền Trung Quốc xem những người tổ chức và đứng đầu mạng lưới kinh doanh đa cấp nhận mức lợi nhuận bất hợp pháp, làm rối loạn trật tự kinh tế và ảnh hưởng đến xã hội. Tuy nhiên, hình thức kinh doanh đa cấp vẫn được xem là hợp pháp tại Đài Loan và Hong Kong.
    Theo Báo Pháp Luật TP.HCM

    Thế Giới Gồ Ghề tạo Chiếc "Nồi Hơi Bức Xúc" và Sự Mụ Mẫm của Loài Người

    Thế giới gồ ghề, chuyển động nhanh, nhiệt sinh ra làm nóng lên và "chiếc nồi hơi bức xúc" có thể nổ tung bất cứ lúc nào...
    Thế chiến 2 bùng nổ không phải do ý muốn của những người dân nghèo, cuộc chiến trên phạm vi toàn thế giới xuất phát từ tham vọng của một thiểu số nắm quyền lãnh đạo một số quốc gia như Đức, Ý, Nhật..., nó cũng còn có nguyên nhân từ những toan tính của giới cầm quyền châu Âu trước những biến động về chính trị sau khi Liên Xô ra đời.  

    Hậu quả mà cuộc chiến để lại là sự tàn phá các thành phố, làng mạc, các công trình văn hóa, môi trường tự nhiên, là việc cướp đi sinh mạng nhiều chục triệu người vô tội.


    Bảy mươi năm sau thế chiến 2, chiến tranh lạnh tưởng như đã chấm dứt, nhân loại vẫn đang phải trả giá cho những toan tính sai lầm, thậm chí là ngông cuồng của không ít người thuộc tầng lớp lãnh đạo mới.

    Sau giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp khởi đầu ở Anh vào cuối thế kỷ 18, giai đoạn 2 và 3 kéo dài đến thế kỷ 20, loài người đã bước vào cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật. 


    Nguồn lực giữ vai trò quyết định cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật là giới trí thức, với sự hậu thuẫn của giới chính trị và doanh nhân. Một sự thật không thể phủ nhận là Chủ nghĩa tư bản chính là bà đỡ của cách mạng khoa học, kỹ thuật.


    Không phải lâu la gì, mới gần đây, người ta cho rằng sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc biệt là Internet đã làm cho thế giới trở nên “phẳng” hơn, các quốc gia, dân tộc trở nên bình đẳng hơn, cuộc sống của người dân khắp nơi được cải thiện hơn… Bản thân người viết cũng có lúc đồng tình với quan điểm đó.  



    Tuy nhiên bước sang thập niên thứ 2 của thế kỷ 21, thực tế đã chứng minh rằng thế giới mà loài người đang sống vẫn là một thế giới “gồ ghề”, loài người vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chiến  tranh, bạo lực, đói nghèo và bất công. 

    Trong khi câu khẩu hiệu “của dân, do dân, vì dân” được nhấn mạnh ở nơi này thì ở nơi khác người ta nói  “của 1%, do 1% và vì 1%”. Con số 1% ở đây là gì? 


    Là 1% người giàu nhất chiếm hơn 40% của cải toàn thế giới. Khoảng cách giàu nghèo đã tăng không phải là “đáng kể” mà đến mức khủng khiếp, nói như Michael Moore, một người Mỹ thì “hệ thống tư bản hiện nay là hệ thống tàn ác và cần bị chấm dứt”.

    Khoa học kỹ thuật phát triển khiến không gian dường như bị thu hẹp lại, khiến thời gian dường như trôi nhanh hơn, con người sống lâu hơn và cũng từ đây nghịch lý xuất hiện.
    Khi một thế giới “gồ ghề” chuyển động nhanh hơn tất sẽ tiêu tốn nhiều năng lượng hơn, sẽ bị ma sát nhiều hơn, nhiệt do ma sát sinh ra sẽ làm thế giới nóng lên và chiếc “nồi hơi bức xúc” có thể nổ tung bất kỳ lúc nào.

    Lợi dụng tâm lý vừa ngây thơ vừa cực đoan của một bộ phận dân chúng, lợi dụng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sự khác biệt về tôn giáo chính là sách lược nhiều chính trị gia đang sử dụng để phục vụ “nhóm lợi ích” của mình.


    Cuộc chiến mà phương Tây trực tiếp tiến hành ở Iraq, Afghanistan, Lybia, Syria, Nam Tư… hay cuộc “chiến tranh ủy nhiệm” ở Gruzia, Ucraina… đang đẩy hàng trăm triệu người dân các quốc gia này vào vòng xoáy bất ổn, bạo lực, nghèo đói, bệnh tật khiến sinh mạng con người trở nên mong manh hơn bao giờ hết.


    Điều tồi tệ nhất hiện nay là không ít chính trị gia phương tây đang đùn đẩy trách nhiệm, thậm chí xem hàng chục vạn di dân châu Phi như lá bài mặc cả trên bàn cờ chính trị. 


    Ủy Ban châu Âu (EC) đã yêu cầu các nước thành viên của khối phải tiếp nhận người tị nạn theo quy chế phân bổ “hạn ngạch” trong khi Thủ tướng Hungary ông Viktor Orban cho rằng: “Vấn đề người nhập cư là chuyện của nước Đức”. Không chỉ Hungary, Anh và một số nước khác cũng phản đối quy chế “hạn ngạch” mà Ủy Ban châu Âu ban hành.


    Gánh nặng di dân mà châu Âu đang đối mặt bắt nguồn từ đâu? Để trả lời câu hỏi này cần phải nêu tiếp một một vài câu hỏi khác:

    Nếu những chế độ mà phương tây xem là độc tài, tham nhũng ở Iraq, Lybia, Ukraina… không bị lật đổ thì người dân các quốc gia này có nghĩ đến chuyện ồ ạt rời bỏ quê hương hay không?”. 

    Lật đổ chính quyền và giết chết Sadam Husein, Gaddafi, bỏ tù cựu tổng thống Ai Cập Mohammed Morsi, lật đổ cựu tổng thống Ukraina  Viktor Yanukovych … có mang lại cuộc sống bình yên cho người dân các quốc gia này?”.


    Chính cuộc chiến đẫm máu mà Mỹ dẫn đầu với sự tham dự của nhiều nước châu Âu đã tàn phá các quốc gia vùng Vịnh, sự tàn phá không phải chỉ là với thể chế chính trị, bộ máy nhà nước mà còn là các giá trị vật thể và phi vật thể khác.


    Những nước được xem là “bạn hữu” của phương tây như A-rập Xê-út, Jordan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất… không bị cuốn vào cuộc chiến, người dân đâu có vượt biển sang châu Âu để hy vọng một cuộc sống bình an?


    Hãy nghe câu trả lời của cậu bé người Syria, Kinan Masalmeh với kênh truyền hình Al Jareeza giữa thủ đô Budapest – Hungary: “Người Syria cần được giúp đỡ. Các ông chỉ cần chấm dứt chiến tranh và chúng tôi sẽ chẳng mong chờ sang châu Âu, hãy chấm dứt chiến tranh”. 


    Phải chăng đây cũng là câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi đâu là nguyên nhân chính gây ra những bất ổn mà nhân loại, (chứ không phải chỉ người dân các quốc gia Trung Đông) đang phải đối mặt. 

    Kinan Masalmeh trả lời phỏng vấn tại Budapest. Ảnh: Al jazeera
    Gây chiến tranh, đe dọa chiến tranh, khoe quân đội, súng đạn với thế giới vẫn là cách thức cổ điển mà những “cái đầu nóng hiện đại” đang làm.
    Nhưng không phải chỉ có thế, biến tướng của nó là “cách mạng màu”, là “mùa xuân Ả Rập”, là các cuộc chiến nồi da nấu thịt dưới sự “ủy nhiệm” của phương Tây mà Kosovo, Ukraina là một minh chứng.

    Thay vì đưa binh lính, dội bom, bắn tên lửa xuống các quốc gia có chủ quyền, người ta hứa hẹn cho tiền, người ta dúi vào tay người bản xứ vũ khí và xúi dục họ tự bắn giết lẫn nhau. 


    Ở mức độ châu lục, các quốc gia giàu có châu Âu như Đức, Anh, Pháp… đưa quân sang tham chiến ở châu Phi nhưng lại “phân bổ hạn ngạch” tiếp nhận di dân cho các quốc gia khác mặc dù nhiều quốc gia không nhận được bất kỳ hợp đồng béo bở nào trong việc khai thác tài nguyên hay xuất khẩu vũ khí thời hậu chiến.


    Trên bình diện toàn cầu, từ bên kia đại dương, người Mỹ lôi kéo các quốc gia châu Âu vào cuộc chiến tại châu Phi và “nhường” hậu quả cho châu Âu gánh chịu.

    Chẳng di dân Trung Đông nào có thể vượt qua Thái Bình Dương hay Đại Tây Dương để đến Bắc Mỹ. Không biết điều này có làm cho những lãnh đạo châu Âu, những người sốt sắng đưa binh lính tham chiến cũng Mỹ có ngộ ra điều gì chăng?

    Các quốc gia châu Âu sẽ phải bỏ ra hàng tỷ đô la để ổn định cuộc sống người di cư, sẽ phải mất nhiều năm để người bản địa chấp nhận một sắc tộc mới, một nét văn hóa mới và rồi đây trong tương lai, liệu nhân loại có phải một lần nữa chứng kiến nạn phân biệt chủng tộc?

    Lợi nhuận mà cuộc chiến mang lại chủ yếu rơi vào tay các ông chủ tư bản, hậu quả của cuộc chiến thì người dân phải gánh chịu, không phải chỉ là người dân nơi xung đột xảy ra mà còn tại các quốc gia tiếp nhận người tị nạn bởi lẽ ngân sách dành cho người di cư đều là tiền thuế mà dân đóng góp. 

    Nhận định này chưa hoàn toàn đúng trên bình diện toàn cầu, chẳng quốc gia nào không bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn tại quốc gia khác. Không một đất nước nào có thể yên tâm phát triển kinh tế nếu chủ quyền quốc gia bị đe dọa.


    Ngôi nhà chung của nhân loại đang bị đe dọa bởi sự cạnh tranh của các nước lớn, bởi xung đột sắc tộc, tôn giáo, bởi biến đổi khí hậu. 


    Nếu những thảm họa do con người gây ra cho bản thân và tự nhiên chưa đủ sức thức tỉnh những cái đầu nóng thì cái gì mới đủ sức thuyết phục họ? Phải làm gì để người nghèo không bị khát nước bởi sự ăn mặn của người giàu?


    Khi tự nhiên nổi giận thì những kẻ đang nắm giữ hơn 40% của cái thế giới liệu có kịp chuyển sang sinh sống ở  hành tinh khác? 


    Những kẻ tự cho là mình thông minh, sao lại tham lam và mụ mẫm như vậy?

     
    Copyright © 2013-2033 CÔNG NGHỆ ET
    Powered by MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT