BREAKING NEWS

Phát triển Tâm thức

MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT

Chuyển hóa Địa cầu

From our Blog

"George Washington" của Nam Mỹ là ai?

Cuộc hành quân táo bạo của "người hùng" Simon Bolivar năm 1819 qua những vùng vúi hiểm trở để giành lại Colombia đã khơi dậy làn sóng nổi dậy của những người dân thuộc địa, thực hiện các cuộc khởi nghĩa giành độc lập, giải phóng các quốc gia Nam Mỹ, để lại một chủ nghĩa lớn vẫn còn giá trị đến tận ngày nay.
Phác họa "người hùng giải phóng Nam Mỹ"
Tiếp thu những tư tưởng của các nhà khai sáng thế kỷ XVIII, là nhà cách mạng nổi tiếng, người lãnh đạo các phong trào giành độc lập ở Nam Mỹ đầu thế kỷ 19. Khi mới 24 tuổi, ông đã được nhiều người biết đến với tài chỉ huy cuộc cách mạng dân tộc; được mệnh danh là "Người giải phóng" hay "George Washington" của Nam Mỹ.
Những cuộc chiến đấu do ông lãnh đạo đã lật đổ sự thống trị của Tây Ban Nha, giành độc lập cho 6 quốc gia ngày nay là: Venezuela, Colombia, Panama, Ecuador, Peru, và Bolivia.
Tài thao lược, cầm quân trên chiến trường
Vào năm 1806, âm mưu đảo chính của Francisco Miranda không thành, nhưng vào năm 1810, lợi dụng thất bại của Tây Ban Nha trong cuộc chiến với Napoleon, chính quyền ở Caracas lung lay vì những cuộc nổi loạn, Simon Bolivar đến Thủ đô London để tìm kiếm những thế lực ủng hộ về chính trị và ông đã gặp được Miranda đang sống tại đó trong cảnh chạy loạn, ông thuyết phục vị lãnh tụ này liên hiệp với mình trong cuộc đấu tranh giành quyền độc lập.
Năm 1811, Venezuela tuyên bố độc lập, nhưng ngay năm sau, những người khởi nghĩa đã bị quân lính Tây Ban Nha đánh tan. Thượng đế dường như hãy còn đứng về phía mẫu quốc Tây Ban Nha, và Bolivar phải lùi về vùng Tân Granada (nay là Colombia).
Nhưng vào năm 1815, binh lính Tây Ban Nha đã buộc Bolivar tháo chạy về vùng Tây Ấn. Tại đây, ông đã soạn thảo một văn bản nổi tiếng là "Bức thư gửi từ Jamaica", trong đó ông đã trình bày hết những luận điểm chính của cuộc đấu tranh khá lâu dài nhằm giành lại độc lập.
Sau khi trở về lục địa, Bolivar đã tiến hành một chiến dịch kéo dài 12 năm và chiến dịch đó kết thúc bằng việc lật đổ hoàn toàn ách thống trị của Tây Ban Nha tại Mỹ Latinh.

Cuộc chiến tranh bùng nổ vào năm 1819 ở vùng Tân Granada là cuộc chiến tranh "bách chiến, bách thắng" chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh của các dân tộc trên thế giới đòi quyền độc lập - Kế hoạch táo tợn của Simon Bolivar là ở chỗ, dẫn một đạo quân hơn 2.000 người vượt qua những vùng thung lũng tràn ngập nước mưa, và sau đó lại chuyển quân qua vùng núi cao của dãy Andes, rồi bất ngờ tấn công cứ điểm kiên cố của người Tây Ban Nha ở Bogota.
Tại thành lũy cứ điểm Bogota, Bolivar đã tuyển quân bổ sung để bước vào cuộc hành quân mới. Với niềm tin mãnh liệt rằng, tinh thần yêu nước của quân đội đã giúp những người lính chịu đựng mọi thử thách khốc liệt, Bolivar lên đường hành quân vào tháng 5, đồng thời lựa chọn một tuyến hành trình gian khổ nhất vào thời điểm không thích hợp trong năm.
Ông chỉ huy 1.300 lính bộ binh và 800 lính kỵ binh. Quân đội hành quân dưới trời mưa tầm tã. Những bộ quần áo chưa kịp khô đã vội mục nát và rách bươm. Ngay cả những dòng suối dễ nhận thấy trong mùa khô hạn nay cũng biến thành những dòng thác đổ ào ào mà chỉ có thể vượt qua bằng những con thuyền làm bằng da bò đực. Còn một số dòng sông những chiến binh buộc phải lội đến ngang thắt lưng trong một thứ nước đen ngòm, ngàu bùn và chỉ có cá sấu và loài cá răng dao hoang dã.
Nhưng nhờ tính kiên định của Bolivar và các tướng lĩnh dưới quyền chỉ huy của ông và nhờ cả vào lòng tin không gì lay chuyển nổi vào sự tất thắng mà do đó tinh thần chiến đấu của các binh lính không bị suy sụp. Khi đến gần dãy Andes, một vị chỉ huy của đội du kích đã liên hệ với Bolivar, đó là Francisco de Paula Santander, và ngày 12-6-1819, cả 2 đội quân đã hợp nhất lại, giành chiến thắng trước đội quân bảo hoảng của tướng Hosa Barreiro, giải phóng vùng Tân Granada.
Vào tháng 12-1819, Bolivar được bầu làm Tổng thống xứ Tân Granada, còn Santander được cử giữ chức Phó Tổng thống. Sau 3 ngày được bổ nhiệm, Bolivar tuyên bố thành lập một quốc gia mới với tên gọi Đại Colombia, bao gồm: Venezuela, Tân Granada và Quito (nay là Ecuador).
Giá trị tư tưởng lớn
Cuộc chiến tranh giành độc lập đã chấm dứt ách thống trị của Tây Ban Nha tại Nam Mỹ nhưng lại làm nảy sinh một làn sóng xung đột xã hội sâu sắc.
Việc chuyển đổi chính quyền từ giới quý tộc Tây Ban Nha sang tay giới quý tộc bản xứ, nhưng trong cuộc sống của phần đông dân chúng bị thống trị mà chủ yếu nằm ở bậc thang cuối cùng của xã hội lại chẳng có gì thay đổi.
Bolivar khá nản chí vì tình trạng "vô chính phủ" xảy ra sau khi giành độc lập, đã quyết định đấu tranh với tình trạng vô trật tự bằng cách thông qua những hiến pháp độc tài. Như vậy, Hiến pháp của Bolivia thông qua vào năm 1826 đã dành cho Tổng thống phần lớn quyền hành, kể cả quyền bổ nhiệm người kế vị.
Thời gian sau, một hiến pháp không kém phần tàn bạo hơn được thông qua ở Peru, thế nhưng, niềm hy vọng của Bolivar nhằm tạo lập ở Mỹ Latinh một nước cộng hòa thống nhất đã không hoàn thành: năm 1829, sau nhiều năm nội chiến, Venezuela tách khỏi Colombia.
Chẳng bao lâu sau, chính bản thân Bolivar cũng thấy rõ rằng, châu Mỹ Latinh tan rã thành những quốc gia riêng biệt là điều không thể nào tránh khỏi. Nhưng dẫu sao vẫn tồn tại một thắng lợi cơ bản giữa châu Mỹ Latinh và những nước khác trên thế giới bắt đầu thắt chặt và củng cố những mối quan hệ thương mại. Họ dùng cà phê, đường và thuốc lá để đổi lấy những hàng hóa công nghiệp để chở đến Tân Thế giới.
Cũng cần phải công minh khi đánh giá về những thành tựu của Bolivar, ông đã góp công lớn trong việc thúc đẩy các quốc gia Mỹ Latinh giành độc lập dân tộc, đồng thời để lại một giá trị tư tưởng lớn - "Chủ nghĩa Bolivar".
Đây là một tập hợp các học thuyết chính trị mà một số nước Nam Mỹ từng theo đuổi, đặc biệt là Venezuela. Chủ nghĩa Bolivar bao gồm 07 điểm chính: độc lập dân tộc, quyền tự chủ của nhân dân, công bằng xã hội, giáo dục toàn dân, chống tham nhũng, chống chủ nghĩa quân phiệt và liên kết Mỹ Latinh.
Trong cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ 3 năm 2012, Tổng thống Hugo Chavez đã công bố bản kế hoạch mới mang tên "Chủ nghĩa xã hội Bolivar" với những sáng kiến tiến bộ nhằm đưa đất nước tiến lên "Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI".
Kế hoạch trình bày những mục tiêu cụ thể cho từng ngành, như củng cố chăn nuôi; tăng cường sản lượng lương thực; khai thác dầu hỏa; xây dựng hệ thống chính quyền cơ sở, sản xuất công nghiệp; tăng cường sức mạnh quân sự; và tham gia thúc đẩy một thế giới đa cực…
Mục tiêu bao quát nhất là "bảo đảm tính kế tục và vững mạnh của Cách mạng Bolivar", làm cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành một xu thế tất yếu, không thể thay đổi; tiếp tục những chương trình mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người nghèo; tăng cường sự kiểm soát của chính phủ đối với các hoạt động kinh tế và quốc hữu hóa những công ty, tập đoàn thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn.
Chính quyền Venezuela ngày nay (dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nicolas Maduro) cũng là một bộ máy chính trị có tính kế thừa chủ nghĩa Bolivar và những cải cách phù hợp với thực tế xã hội.
Tuy nhiên, do sự lãnh đạo chưa hiệu quả; nền kinh tế quá phụ thuộc vào dầu mỏ và sự can thiệp mạnh mẽ của Mỹ và phương Tây đang khiến Venezuela rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị xã hội trầm trọng nhất từ trước tới nay, đứng trước bờ vực của sự sụp đổ nếu không có những bước đi mới cải thiện tình hình trong thời gian tới.
------------------------------------------

Hãy cùng xem NGƯỜI GIẢI PHÓNG - The Liberator

Bộ phim kể về một anh hùng có thật trong lịch sử. Đó chính là Simon Bolivar, người đã chiến đấu hơn 100 trận chiến chống lại đế chế Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Ông cưỡi trên 70.000 dặm trên lưng ngựa. Các chiến dịch quân sự của ông bao phủ hai lần lãnh thổ của Alexander Đại đế.

Sự tuyệt chủng của nhân cách – một nguy cơ trong xã hội đương đại

Những mô hình xa hoa, trụy lạc và các phương tiện đề cao các mô hình đó tràn ngập trên thị trường văn hóa, bao vây ngũ quan của thế hệ trẻ. Một khi nhân cách trở thành một khối bèo nhèo nhũn nát như hiện nay thì nguy cơ tuyệt chủng nhân cách cũng không còn xa xôi nữa.
Trong một tác phẩm viết về các động vật biển rất thú vị, Mammals of tự Seas (Động vật hữu nhũ ở biển), nhà sinh vật học R. M. Martin khi phản đối việc săn bắt cá voi đã nhấn mạnh đến khái niệm “tuyệt chủng sinh học” (biological extinction). Những người muốn bảo vệ nghề săn bắt cá voi đã lý luận như sau: “Chúng tôi ý thức nguy cơ tuyệt chủng loài cá voi như các nhà khoa học đã cảnh báo. Nhưng khi cá voi trở nên hiếm hoi (do săn bắt quá nhiều) thì việc săn bắt chúng không còn có lợi về mặt kinh tế nữa, do đó việc săn cá voi sẽ tự động ngưng lại mà không cần ai bó buộc cả”.
Nghĩa là, nói cách khác, cá voi đã được bảo vệ một cách tự động do… chính các tay săn bắt cá voi. R.M. Martin chế giễu lối lý luận này là lý luận của một nhà kế toán chứ không căn cứ trên một hiểu biết sinh học nào cả. Ông nhấn mạnh các tay săn cá voi không cần phải tự tay họ giết đến con cá voi cuối cùng thì chúng mới bị tuyệt chủng. Quá trình tuyệt chủng đã khởi sự ngay khi số lượng cá voi trên đại dương bị tuột thấp xuống dưới một ngưỡng nhất định.
Có ba lý do chính. Lý do thứ nhất, do số lượng cá voi còn lại quá ít, chúng bị phân tán ra khắp trên các đại dương xa xôi và do đó không thể tìm đến nhau để phối hợp truyền giống được. Lý do thứ hai: cá voi là động vật (giống như người) thích sống theo quần thể vì chính một quần thể cá voi có độ đông đảo thích hợp mới có thể kích thích hành vi truyền giống của chúng. Hai con cá voi tình cờ gặp nhau trên một đại dương bao la thì khó có khả năng tương hợp về mặt sinh học để sản xuất ra những chú cá voi con tốt đẹp được. Cũng giống như con người được hướng dẫn bởi cái gọi là ái tình để đi tìm đối tượng tương hợp nhất với mình (và khi tìm được rồi thì sống chết gì cũng phải lấy cho bằng được để sản xuất ra những đấng nhi đồng xinh xắn), loài cá voi cũng phải được chọn lựa trong đồng loại chúng những đối tượng phối ngẫu thích hợp nhất. Khi dân số cá voi bị suy giảm nghiêm trọng và lại bị phân tán ra trên khắp các đại dương thì khả năng sản sinh cá voi cũng bị xuống cấp theo, và khi đã bắt đầu tuột dốc thì không còn gì có thể cứu vãn được nữa, vì tuyệt chủng là gì nếu không phải tử suất luôn luôn ở mức độ cao hơn sinh suất? Lý do thứ ba là lý do quan trọng nhất: cứ tạm cho rằng cá voi vẫn còn có thể tụ tập lại với nhau trong một quần thể có kích thước chấp nhận được, vẫn tồn tại một nguy cơ cuối cùng. Đó là tập hợp các nhiễm thể di truyền (gene pools) của toàn thể loài cá voi bị tuột thấp xuống đến mức không còn có tác dụng gì nữa về mặt sinh học. Chủng loại tồn tại và phát triển là nhờ khả năng thích ứng với môi trường và sự đa dạng hóa giữa các thành viên trong chủng loại được phát triển cao. Ví dụ như trong quần thể người: chúng ta có Mozart, Beethoven là những thành viên có thiên tài âm nhạc, Pasteur, Newton, Einstein, là những thiên tài khoa học, Kant, Hegel, Marx, những tư tưởng gia vĩ đại, và vô số những cá nhân xuất sắc trong nhiều lĩnh vực khác nữa (vận động viên thể thao, những cá nhân mỹ miều xinh đẹp .v.v…). Như vậy tổng thể các yếu tố di truyền của nhân loại nói chung sẽ cực kỳ đa dạng và phong phú. Nhưng hãy giả sử sau một thảm họa hạt nhân, nhân loại chỉ còn sót lại vài ba mống đau ban, bịnh bại, đầu óc ngu đần, thể chất bạc nhược, thì chắc chắn quá trình tiến hóa lại phải bắt đầu trở lại, nếu không muốn nói loài người có nguy cơ tuyệt giống luôn. Đây chính là sự tuyệt chủng sinh học kéo dài (protracted biological extinction).
Khi đọc cuốn sách này tôi không nghĩ đến cá voi mà liên tưởng ngay đến xã hội và văn hóa Việt Nam hiện nay. Đây là một ẩn dụ thích hợp. Mọi người (các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo…) thường than phiền về tệ nạn xã hội đang lan tràn trong giới trẻ: đua xe, chích choác, phá thai… và ai cũng khao khát, hăm hở đi tìm những biện pháp khắc phục. Nhà nước chắc chắn cũng không thể không quan tâm. Nhưng chưa ai bàn đến một khái niệm căn bản nhất: nhân cách (personality). Tương hệ giữa nhân cách và quá trình xã hội hóa (socialization) như thế nào? Thế hệ trẻ bây giờ (khoảng từ 14 đến 20) được đào tạo về mặt nhân cách ra sao? Ai là người chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng một nền tảng hoàn chỉnh để cá nhân có thể tiếp tục tự phát triển trong một cộng đồng tương ứng? Dĩ nhiên đơn vị chịu trách nhiệm tiên khởi trong sự đào tạo nhân cách là gia đình và sau đó là học đường. Cấu trúc gia đình hiện nay ra sao? Cấu trúc chương trình giáo dục tại nhà trường có phù hợp không? Trẻ em cần phải định hướng tư duy của chúng căn cứ trên hệ thống giá trị nào? Thần tượng của chúng bây giờ là ai? Có phải Mozart hay Einstein hay những đấng hớt đầu đinh, điện thoại cầm tay, lao đi vun vút trên một chiếc xe gắn máy phân khối cao, và nếu có thêm một em bé “chổng phao câu”, mồm nhai nhóp nhép kẹo cao su, ngồi ôm đằng sau thì tuyệt diệu.
Chúng ta không thấy rằng hiện nay một hệ thống giá trị để giúp cá nhân định hướng sự phát triển tinh thần không tồn tại hay nếu có tồn tại cũng chỉ là một hình ảnh già nua, mờ nhạt, một kỷ niệm hơn là một động lực mạnh mẽ khuyến khích cá nhân tự thăng tiến theo một chiều hướng tích cực (hăng say học tập, nghiên cứu, phát triển phong cách sống bác ái, vị tha… không tôn thờ thần tài…). Giá trị được cưu mang bởi các cá nhân được xem là mô hình lý tưởng trong một xã hội. Những cá nhân đó, nếu vẫn tiếp tục tồn tại, cũng giống như loài cá voi trước hiểm họa bị lùng bắt, đã phân tán quá mỏng trên đại dương bao la của đời sống và không thể liên hệ, nối kết với nhau, để sản sinh ra một thế hệ kế thừa vững chãi tiếp tục đi lên trên một nền tảng nhân cách đã được xác lập. Họ là những tiếng nói yếu ớt bị gió cuốn đi trong sa mạc văn hóa. Không ai lắng nghe họ hay chỉ giả vờ lắng nghe. Tòa nhà văn hóa đang có nguy cơ bị… quy hoạch và mọi người xôn xao bàn ra tán vào, nhưng điều mà họ bàn tán là “quy hoạch rồi thì chuyển đi đâu, tiền bồi thường là bao nhiêu” chứ không mảy may quan tâm đến việc xem xét lại nền móng của tòa nhà. Nền móng đó chính là nhân cách được xây dựng trên một hệ thống giá trị ổn định, một hệ thống được cụ thể hóa trong các cá nhân được xem là mô hình lý tưởng. Cũng như Mạnh Tử, một hiền triết Trung Hoa, đã nhận xét: “Thiên hạ chi bản tại quốc quốc chi bản tại gia” (Quốc gia là gốc của thiên hạ, gia đình là gốc của quốc gia, Mạnh Tử, Ly Lâu chương cú thượng, 5). Cũng nên nói theo chiều ngược lại: quốc gia phải hỗ trợ gia đình trong việc kiến tạo một hệ thống giá trị ổn định, gia đình phải hỗ trợ cá nhân trong việc xây dựng một nhân cách vững chắc, cá nhân định hướng sự phát triển tư duy theo các mô hình lý tưởng được cộng đồng đề cao, ngưỡng mộ.
Một khi nhân cách trở thành một khối bèo nhèo nhũn nát như hiện nay thì nguy cơ tuyệt chủng nhân cách cũng không còn xa xôi nữa. Những mô hình xa hoa, trụy lạc và các phương tiện đề cao các mô hình đó tràn ngập trên thị trường văn hóa, bao vây ngũ quan của thế hệ trẻ. Chúng còn có thể nhìn thấy gì, nghe thấy gì trong bầu không khí ồn ào nhiễu loạn hiện nay? Còn những cá nhân cưu mang một hệ thống giá trị khác bây giờ đang ở đâu? Hay chính bản thân họ cũng đang than khóc trong xó tối cuộc đời trên con đường về quên lãng? Bắt chước Lỗ Tấn trong Cuồng nhân nhật ký đã viết “Cứu cứu hài tử” (Hãy cứu lấy trẻ em), chúng ta sẽ nói “Hãy cứu lấy nhân cách”.
Nếu ví sự nghiệp giáo dục như cái cây thì phần rễ cây tương ứng với giáo dục giá trị sống, thân cây tương ứng với giáo dục kiến thức và ngọn cây tương ứng với giáo dục kĩ năng sống. Như vậy giáo dục giá trị sống là nền tảng của giáo dục kĩ năng sống.
Giáo dục (education), gốc la-tinh (e-ducere) có nghĩa là khơi dậy những gì vốn đã có sẵn ở mỗi người. Bản chất con người vốn thiện lành với những giá trị tốt đẹp, nhưng cuộc sống đầy cạnh tranh có thể làm cho các giá trị đó bị che khuất. Chương trình giáo dục giá trị sống giúp con người khám phá trở lại và phát triển 12 giá trị căn bản của cá nhân như: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Yêu thương, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết.
Trong Tâm lý học thường hay sử dụng nguyên lý tảng băng trôi để mô tả nhân cách của một con người. Ở tảng băng, phần nổi trên mặt nước mà chúng ta quan sát được chỉ chiếm số ít, phần lớn của tảng băng lại chìm dưới nước mà chúng ta khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Trong nhân cách của con ngưới, cái phần nhìn thấy tưởng như là tất cả kia thực chất chỉ là một phần rất nhỏ, phần lớn của nhân cách lại chìm “ẩn” đi. Đó là tâm, là đức, là hứng thú, là lí tưởng, là định hướng của mỗi cá nhân. Cũng như vậy nếu ví con người như tảng băng trôi thì phần nổi trên mặt nước chính là kiến thức và kĩ năng sống, phần nhiều chìm ở dưới nước là các giá trị sống. Thiếu nền tảng giá trị sống vững chắc, con người rất dễ bị ảnh hưởng bởi những giá trị vật chất, và rồi mau chóng định hình chúng thành mục đích sống, đôi khi đưa đến kiểu hành vi thiếu trung thực, bất hợp tác, vị kỷ cá nhân. Giá trị sống giúp chúng ta cân bằng lại những mục tiêu vật chất.
Những giá trị sống tích cực là chiếc neo giúp chúng ta ổn định, vững chãi giữa những biến động của cuộc đời, có thể sẽ không dễ dàng gì nhưng ta vẫn vượt qua được mà không cảm thấy bị thua thiệt, mất mát.
Tác giả: Trần Mạnh Linh.
Nguồn: Tạp văn – NXB Tổng hợp TP.HCM.

Chủ nghĩa xã hội qua góc nhìn của Albert Einstein

Nhiều lần Einstein tự giới thiệu mình là người theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng ít ai biết đến bài báo “Why Socialism?” đăng trong số đầu tiên của tạp chí Monthly Review của Mỹ (số tháng 5-1949).
Albert Einstein (sinh năm 1879 tại Đức, mất 1955 tại Hoa Kỳ) được xem là một trong những nhà vật lý lớn nhất từ trước tới nay. Công trình chính của ông, thuyết tương đối (1905/1915), là xương sống của ngành vật lý hiện đại. Năm 1922, ông nhận Giải Nobel vì những đóng góp quan trọng cho vật lý học lý thuyết, nhất là việc khám phá định luật về hiệu ứng quang điện. Tháng 12-1932 ông sang Mỹ rồi không trở về nước khi Đức Quốc xã giành chính quyền vào đầu năm sau.
Không những là một nhà khoa học vĩ đại, Einstein còn hoạt động tích cực chống chiến tranh, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa quân phiệt. Trước nỗi khổ của dân tộc Do Thái, ông góp phần đáng kể vào việc thành lập và xây dựng nước Israel.
Nhiều lần Einstein tự giới thiệu mình là người theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng ít ai biết đến bài báo “Why Socialism?” đăng trong số đầu tiên của tạp chí Monthly Review của Mỹ (số tháng 5-1949). Trong đó, ông đề cập đến những vấn đề của cả chế độ tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội.
Nguồn: Albert Einstein, Why Socialism? Monthly Review May 2009 [May 1949]
Biên dịch: Phạm Hải Hồ
——————————————
Sự khác nhau giữa khoa học và kinh tế [1]
Một người không phải là chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế – xã hội có nên bày tỏ quan điểm về chủ nghĩa xã hội hay không? Một loạt lý do khiến tôi nghĩ rằng nên làm việc ấy.
Trước hết, chúng ta hãy xem xét vấn đề từ quan điểm khoa học. Bề ngoài có vẻ như không có sự khác biệt đáng kể nào về phương pháp giữa thiên văn học và kinh tế học: Các nhà khoa học thuộc hai ngành ấy đều cố gắng khám phá những quy luật được chấp nhận rộng rãi cho một nhóm hiện tượng để hiểu càng rõ càng tốt về mối liên kết giữa chúng với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế lại có những khác biệt về phương pháp. Việc khám phá những quy luật chung trong lĩnh vực kinh tế gặp khó khăn, bởi vì các hiện tượng kinh tế chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố rất khó được đánh giá riêng biệt. Hơn nữa, như đã biết, kinh nghiệm tích lũy từ đầu giai đoạn gọi là “văn minh” chủ yếu bị ảnh hưởng và giới hạn bởi những vấn đề không chỉ có tính chất kinh tế. Chẳng hạn như đa số các thực thể quốc gia lớn trong lịch sử đều tồn tại nhờ xâm lăng nước khác. Các dân tộc xâm lược đã củng cố vị thế của mình – về pháp lý và kinh tế – là giai cấp có đặc quyền đặc lợi ở nước bị xâm chiếm. Họ nắm giữ độc quyền sở hữu đất đai và cử những người từ tầng lớp của mình vào chức linh mục. Trong vai trò quản lý hệ thống giáo dục, các linh mục đã thể chế hóa tình trạng phân chia giai cấp của xã hội và tạo ra một hệ thống giá trị ảnh hưởng tới hành vi xã hội của người dân mà những người này hầu như không nhận thức được điều đó.
Mặc dù truyền thống lịch sử ấy có thể nói là thuộc về quá khứ nhưng chúng ta chưa thực sự vượt qua cái mà Thorstein Veblen [2] gọi là “giai đoạn cướp bóc” ở nơi nào cả. Các dữ kiện kinh tế quan sát được thuộc về giai đoạn đó và cả những quy luật mà chúng ta có thể rút ra từ chúng cũng không thể áp dụng cho những giai đoạn khác. Vì mục tiêu thực sự của chủ nghĩa xã hội chính xác là để khắc phục và vượt qua giai đoạn nói trên, khoa học kinh tế hiện nay chỉ có thể giúp chúng ta hiểu một ít về xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai.
Lý do thứ hai là, chủ nghĩa xã hội hướng tới mục tiêu đạo đức – xã hội. Nhưng khoa học lại không thể tạo ra những mục tiêu, nó càng không thể gợi cho con người những mục tiêu ấy; trong trường hợp tốt nhất, khoa học chỉ có thể cung cấp phương tiện để đạt tới những mục tiêu nào đó. Trái lại, các mục tiêu lại được những nhân vật có lý tưởng đạo đức cao cả nghĩ ra và – nếu không chết non mà mạnh mẽ, đầy sức sống – chúng sẽ được nhiều người tiếp nhận, phổ biến và quyết định, tuy có phần không chủ ý, sự tiến hóa chậm rãi của xã hội.
Bởi những lý do ấy, chúng ta nên thận trọng, không đánh giá quá cao khoa học và phương pháp khoa học khi xem xét các vấn đề của con người; chúng ta không nên cho rằng chỉ các chuyên gia mới có quyền phát biểu về những vấn đề liên quan đến tổ chức của xã hội.

Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Từ lâu nay, vô số tiếng nói khẳng định rằng xã hội loài người đang trải qua một cuộc khủng hoảng và sự ổn định xã hội bị phá hủy. Đặc điểm của một tình trạng như thế là những cá nhân có thái độ bàng quan, thậm chí đầy ác cảm đối với tập thể lớn hay nhỏ của họ. Để giải thích điều tôi muốn nói, tôi xin kể một kinh nghiệm cá nhân. Cách đây không lâu, tôi thảo luận với một người đàn ông thông minh và thân thiện về hiểm họa của một cuộc chiến tranh mới mà theo tôi, nó đe dọa nghiêm trọng sự sống còn của nhân loại và chỉ một tổ chức siêu quốc gia (a supra-national organization) mới có thể bảo đảm sự an toàn trước hiểm họa ấy. Đáp lại, người khách của tôi – rất bình thản, lãnh đạm – nói: “Tại sao bạn hết sức chống lại sự biến mất của loài người như vậy?”
Tôi chắc rằng chỉ trước đây một thế kỷ thôi, không ai có thể phát biểu một cách nông nổi như thế. Đó là phát biểu của một người đã nỗ lực tìm sự thăng bằng nội tâm nhưng vô ích và đã mất ít nhiều hy vọng thành công. Đó là biểu hiện của nỗi cô đơn, cách biệt khiến bao người phải đau khổ trong lúc này. Đâu là nguyên nhân của nó? Có lối thoát nào không?
Không khó đặt ra những câu hỏi ấy, nhưng trả lời chúng với một chút chắc chắn là điều khó khăn. Tuy vậy, tôi phải cố gắng hết sức, mặc dù biết rõ những cảm nghĩ và nỗ lực của chúng ta thường trái ngược nhau và khó hiểu vì không thể được diễn tả bằng những công thức đơn giản, dễ dàng.
Con người vừa là một cá thể vừa là thành viên của xã hội. Là một cá thể, con người cố gắng bảo vệ sự sống của mình và người thân cũng như tìm cách thỏa mãn nhu cầu cá nhân, phát triển năng khiếu bẩm sinh của mình. Là thành viên xã hội, con người cố tìm sự tôn trọng và yêu mến của đồng loại, chia sẻ niềm vui với họ, an ủi họ khi đau buồn và giúp họ cải thiện điều kiện sống. Chỉ sự hiện hữu của các nỗ lực đa dạng, thường trái ngược nhau ấy mới làm nên tính cách riêng của một người và sự kết hợp đặc thù của chúng quyết định mức độ một cá nhân có thể đạt tới trạng thái cân bằng nội tại và góp phần giúp ích cho xã hội. Hoàn toàn có thể là sức mạnh tương đối của hai động lực ấy chủ yếu phụ thuộc vào di truyền. Nhưng rốt cuộc rồi nhân cách vẫn thường được tạo nên bởi môi trường mà một người tình cờ lạc vào trong thời gian phát triển của mình, bởi cấu trúc xã hội mà trong đó anh ta lớn lên, bởi các truyền thống và sự phán đoán của xã hội về những hành vi khác nhau. Đối với con người cá thể, khái niệm “xã hội” trừu tượng có nghĩa là toàn thể các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp của người ấy với những người đồng thời và tất cả những người thuộc các thế hệ trước. Con người cá thể có khả năng tư duy, cảm xúc, phấn đấu và làm việc độc lập; nhưng trong đời sống thể chất, lý trí và tình cảm của mình, cá nhân phụ thuộc vào xã hội đến nỗi không thể nào nghĩ đến và hiểu cá nhân bên ngoài khung cảnh xã hội. Chính “xã hội” là cái đem lại cho con người quần áo, chỗ ở, công cụ lao động, ngôn ngữ, các hình thức tư duy và đa số nội dung tư tưởng; con người sống được là nhờ công sức và thành tựu của nhiều triệu người trong hiện tại và quá khứ, tất cả đều ẩn sau cái từ nhỏ nhoi “xã hội”.
Vì thế, sự phụ thuộc của cá nhân vào xã hội là một quy luật tự nhiên, một quy luật – cũng như loài kiến và loài ong – con người không thể xóa bỏ được. Tuy nhiên, trong khi cả quá trình sống của các loài ong kiến bị ràng buộc cho tới từng chi tiết nhỏ bởi bản năng di truyền bất biến, các mẫu hình xã hội và các mối quan hệ tương hỗ của con người dễ biến đổi và nhạy cảm với sự đổi thay. Ký ức, khả năng tạo ra cái mới và năng khiếu giao tiếp bằng lời nói là điều kiện cho con người có những phát triển không chịu sự chi phối của các nhu cầu sinh học. Các phát triển như thế hiện rõ qua những truyền thống, thiết chế và tổ chức; qua văn chương; qua những thành tựu khoa học kỹ thuật; qua những tác phẩm nghệ thuật. Điều ấy giải thích vì sao con người, trong một ý nghĩa nào đó, có thể tự tác động đến đời sống của mình và vì sao trong quá trình này, tư duy và ý chí có thể giữ một vai trò.
Qua đường di truyền, con người khi sinh ra đã có một cơ sở sinh học phải được xem là vững chắc, không thể thay đổi. Nó bao gồm cả các bản năng tự nhiên vốn đặc trưng cho loài người. Ngoài ra, trong cuộc đời mình con người còn tiếp nhận từ xã hội một nền tảng văn hóa qua việc giao tiếp và nhiều loại ảnh hưởng khác. Chính cái nền tảng văn hóa ấy phải chịu thay đổi theo thời gian và chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Với những nghiên cứu đối chiếu các nền văn hóa gọi là “sơ khai”, ngành nhân chủng học hiện đại chỉ rõ rằng hành vi xã hội của con người có thể rất khác nhau và tùy thuộc vào những mẫu hình văn hóa, những cách thức tổ chức chiếm ưu thế trong xã hội. Đây chính là điều mà những ai mong muốn thay đổi số phận con người có thể đặt hy vọng vào: Không phải bởi nền tảng sinh học của mình mà con người buộc phải tiêu diệt lẫn nhau hay cam chịu những điều bất hạnh do con người tự gây ra cho mình.
Nếu chúng ta tự hỏi nên sửa đổi cơ cấu xã hội và quan điểm về văn hóa như thế nào để con người càng hài lòng với đời sống của mình càng tốt, thì chúng ta phải luôn luôn ý thức rằng có những hoàn cảnh không thể nào thay đổi được. Như đã đề cập trước đây, trạng thái sinh học của con người, trên thực tế, không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi. Hơn nữa, những phát triển công nghệ và dân số học trong một vài thế kỷ gần đây đã tạo ra những điều kiện vững bền. Với một mật độ dân số tương đối cao và những vật dụng không thể thiếu cho sự tồn tại của họ, thì một sự phân công tối đa và một bộ máy sản xuất tập trung cao độ là hết sức cần thiết. Thời kỳ mà những cá nhân riêng lẽ hay những nhóm nhỏ có thể hoàn toàn tự cung tự cấp, thời kỳ có vẻ bình dị, yên ả khi hồi tưởng ấy đã vĩnh viễn qua rồi. Chỉ hơi cường điệu nếu khẳng định rằng nhân loại ngay bây giờ đã tạo thành một cộng đồng sản xuất và tiêu dùng toàn thế giới.
Bản chất cuộc khủng hoảng trong thời đại chúng ta
Đến đây, tôi có thể trình bày ngắn về vấn đề đối với tôi là bản chất cuộc khủng hoảng trong thời đại của chúng ta. Nó liên quan đến mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Hơn bao giờ hết, con người nhận thức về sự lệ thuộc của mình vào xã hội. Nhưng con người không trải nghiệm sự lệ thuộc ấy như một điều tích cực, một quan hệ hữu cơ, một sức mạnh che chở mình, mà như một mối đe dọa các quyền lợi tự nhiên hay ngay cả đời sống kinh tế của mình. Hơn nữa, con người có một vị trí trong xã hội cho phép các bản năng ích kỷ luôn luôn được nhấn mạnh, trong khi các bản năng xã hội vốn đã yếu thì ngày càng suy yếu hơn. Tất cả mọi người – cho dù họ có vị trí nào trong xã hội đi nữa – đều cảm thấy khổ sở vì quá trình ấy. Vô tình bị trói buộc bởi tính tự kỉ trung tâm, họ cảm thấy bất an, cô độc và mất đi niềm vui chân chất, giản dị và tự nhiên. Con người chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống ngắn và đầy nguy hiểm của mình qua sự cống hiến cho xã hội.
Theo quan điểm của tôi, tình trạng vô chính phủ về mặt kinh tế hiện nay là nguồn gốc của sự tha hóa. Trước mắt chúng ta là một cộng đồng sản xuất khổng lồ mà các thành viên không ngừng tìm cách tước đoạt lẫn nhau các thành quả lao động tập thể – không bằng bạo lực nhưng thường bằng sự nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ. Về phương diện này, điều quan trọng là nhận thức rằng các phương tiện sản xuất – tức là toàn bộ khả năng sản xuất cần thiết để làm ra hàng tiêu dùng cũng như tư liệu sản xuất mới – về mặt pháp lý có thể thuộc về tài sản cá nhân và đa số trường hợp cũng là như thế.
Để đơn giản hóa, sau đây tôi sẽ gọi “công nhân” là những người không sở hữu phương tiện sản xuất – mặc dù đó không hẳn là nghĩa thông thường của từ “công nhân”. Chủ sở hữu phương tiện sản xuất giữ một vị trí trong xã hội cho phép ông ta mua sức lao động của công nhân. Với các phương tiện sản xuất, người công nhân làm ra những sản phẩm mới và những sản phẩm này trở thành tài sản của nhà tư bản. Điểm chính yếu trong quá trình ấy là tỉ lệ giữa giá trị thực mà người công nhân tạo ra và tiền công anh ta thực sự nhận được. Nếu như hợp đồng lao động “để ngỏ”, tiền công của người công nhân không được định bởi giá trị thực của sản phẩm mà bởi nhu cầu tối thiểu của anh ta và yêu cầu về sức lao động của nhà tư bản so với số công nhân cạnh tranh việc làm với nhau. Điều quan trọng là nên hiểu rằng ngay cả trong lý thuyết, lương công nhân cũng chẳng được định bởi giá trị sản phẩm do anh ta làm ra.
Tư bản tư nhân có khuynh hướng tập trung vào tay một số ít người – một phần do sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, phần khác do phát triển công nghệ và sự mở rộng phân công lao động đã thúc đẩy quá trình hình thành những đơn vị sản xuất lớn, làm thiệt hại những đơn vị nhỏ hơn. Kết quả của những tiến trình ấy là một tập đoàn tư bản đầu sỏ với quyền lực to lớn mà ngay cả một tổ chức chính trị có cấu trúc dân chủ cũng không kiểm soát được. Thật vậy, các đại biểu của cơ quan lập pháp được bầu bởi những đảng phái chủ yếu nhận tài trợ hoặc ít nhất cũng chịu tác động của những nhà tư bản tư nhân, những người trên thực tế tách biệt cử tri với ngành lập pháp. Hậu quả là các đại biểu nhân dân không bảo vệ đầy đủ quyền lợi của các bộ phận dân chúng thiệt thòi về mặt xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện hiện hữu, tất nhiên các nhà tư bản kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp các phương tiện thông tin chính yếu (báo chí, đài phát thanh, hệ thống giáo dục). Vì thế nên công dân khó có thể, trong đa số trường hợp gần như không thể rút ra những kết luận khách quan và sử dụng các quyền chính trị của mình một cách khôn ngoan.
Tình trạng phổ biến trong một nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư bản được mô tả bởi hai nguyên lý chính: thứ nhất, các phương tiện sản xuất (tư bản) thuộc sở hữu tư nhân, chủ sở hữu được tùy nghi sử dụng; thứ hai, hợp đồng lao động là hợp đồng để ngỏ. Dĩ nhiên không có xã hội tư bản nào là thuần túy theo đúng nghĩa. Đặc biệt cần lưu ý rằng sau những cuộc đấu tranh chính trị gay gắt và dai dẳng, công nhân đã thành công trong việc đảm bảo một hình thức sửa đổi đôi chút của “hợp đồng lao động để ngỏ” cho một số bộ phận công nhân nào đó. Nhưng nhìn chung, nền kinh tế hiện nay không khác gì chủ nghĩa tư bản “thuần túy” cho lắm.
Sản xuất vì lợi nhuận, không vì lợi ích. Không có một bảo đảm nào để những ai có khả năng và sẵn sàng làm việc đều có thể tìm được việc làm; gần như lúc nào cũng có một “đạo quân thất nghiệp”. Người lao động luôn luôn sợ mất việc làm. Vì những công nhân thất nghiệp và lương thấp không tạo thành một thị trường mang lại lợi nhuận nên việc sản xuất hàng hóa bị giới hạn và hậu quả là tình trạng nghèo khổ. Tiến bộ công nghệ thường khiến số người thất nghiệp tăng thêm thay vì làm giảm gánh nặng công việc cho tất cả mọi người. Cùng với sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, động cơ lợi nhuận là nguyên nhân của sự bất ổn trong quá trình tích lũy vốn và đầu tư, khiến cho ngày càng có nhiều đợt suy thoái nặng nề hơn. Cạnh tranh vô giới hạn khiến lao động bị lãng phí rất nhiều và làm bại liệt ý thức xã hội của những cá nhân mà tôi đã đề cập tới.
Tôi cho rằng tình trạng bại liệt ấy là tai họa lớn nhất của chủ nghĩa tư bản. Cả hệ thống giáo dục của chúng ta phải chịu tổn thất vì nó. Sinh viên bị nhồi sọ là phải nỗ lực cạnh tranh với nhau, họ được tập luyện để tôn thờ sự thành công hám lợi như là bước chuẩn bị cho đường công danh của họ.
Vấn đề tập trung quyền lực trong chủ nghĩa xã hội
Tôi tin chắc rằng chỉ có một phương cách loại trừ tai họa nặng nề đó, ấy là thiết lập một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kèm theo một hệ thống giáo dục hướng tới những mục tiêu xã hội. Trong một nền kinh tế như thế, các phương tiện sản xuất thuộc về xã hội và được sử dụng theo kế hoạch. Một nền kinh tế kế hoạch điều tiết sản xuất theo nhu cầu sẽ phân phối công việc cho tất cả những ai có khả năng lao động và bảo đảm sinh kế cho mọi đàn ông, đàn bà cũng như trẻ con. Ngoài việc giúp con người khai thác năng khiếu bẩm sinh của mình, hệ thống giáo dục còn cố gắng phát triển trong con người một ý thức trách nhiệm đối với đồng loại, thay vì ca tụng quyền lực và sự thành công như trong xã hội hiện tại của chúng ta.
Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng một nền kinh tế kế hoạch chưa phải là chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế kế hoạch theo cách hiểu thông thường có thể kèm theo một sự nô dịch hóa cá nhân hoàn toàn. Thành tựu của chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có giải đáp cho vài vấn đề chính trị – xã hội vô cùng khó khăn: Xét đến việc tập trung hóa cao độ những lực lượng chính trị và kinh tế, làm thế nào để có thể ngăn ngừa một bộ máy quan liêu có quyền lực tuyệt đối, vô hạn? Làm thế nào để các quyền lợi của cá nhân được bảo vệ và nhờ đó mà một đối trọng dân chủ của bộ máy quan liêu được bảo đảm?
Nhận thức về các mục tiêu và vấn đề của chủ nghĩa là vô cùng quan trọng trong thời kỳ quá độ của chúng ta. Trong điều kiện hiện nay, việc thảo luận các vấn đề ấy một cách cởi mở, tự do là điều cấm kị [3] nên tôi cho rằng sự sáng lập tạp chí này là một dịch vụ công quan trọng.
—————————————————–
Chú thích:
[1] Các tiểu đề và lời chú thích là của người dịch.
[2] Thorstein Veblen (1827-1929): nhà kinh tế học và xã hội học Hoa Kỳ, nghiên cứu về sự hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền của Mỹ, lý thuyết về xã hội, những quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng v.v. Ông có ảnh hưởng lớn trong giới khoa học kinh tế quốc dân và xã hội học ở Mỹ.
[3] Chắc hẳn Einstein muốn nói đến chính sách chống cộng cực đoan ở Mỹ trong “thời kỳ McCarthy” (1947-1956). Không kể nhiều đảng viên cộng sản và lãnh tụ phái tả, những người bị tình nghi âm mưu lật đổ, phá hoại, hoạt động gián điệp đều là đối tượng của chính sách này. Trong số đó, có nhiều nhà khoa học (ví dụ như Edward Condon, Robert Oppenheimer, Albert Einstein) và nhiều văn nghệ sĩ danh tiếng (Charlie Chaplin, Thomas Mann, Bertold Brecht, Arthur Miller v.v.). Họ bị theo dõi, thẩm vấn điều tra, cách chức hay trục xuất, thậm chí bị án tù. Nặng nề nhất là trường hợp hai vợ chồng Julius và Ethel Rosenberg bị kết án tử hình vì tội cung cấp tài liệu làm bom nguyên tử cho Liên Xô, chủ yếu chỉ dựa trên lời khai của một em trai của Ethel. Năm 1953, hai người bị tử hình, bất kể sự phản đối dữ dội trên khắp thế giới.

Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Bắc Âu và những gợi mở cho Việt Nam

Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ ở các nước Bắc Âu chứa đựng những giá trị tiến bộ về dân chủ, nhân quyền, những giá trị phúc lợi phục vụ người dân. Những thành tựu của mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ ở Bắc Âu có những gợi mở giá trị cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành hội nhập quốc tế, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sâu rộng.
1. Những thành tựu tiêu biểu của mô hình Bắc Âu
a) Xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, bình đẳng hơn
Ở các nước Bắc Âu, người dân có khả năng tham gia vào chính trị ngày càng tích cực hơn. Nhân dân được biết tương đối đầy đủ nhà nước, chính phủ đang và sẽ làm gì. Những sáng kiến chính trị của người dân được lắng nghe tôn trọng và có cơ chế hiện thực để trình bày, thẩm định và nếu khả thi thì sẽ được pháp luật có cơ chế để hiện thực hóa. Quyền của người dân được tham gia vào các hoạt động kinh tế và thụ hưởng thành quả của nền kinh tế thị trường xã hội, được nhà nước và xã hội bảo đảm ở mức tương đối tốt, thông qua phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội.
Các nước Bắc Âu có một nền kinh tế thị trường khá lành mạnh, năng động và được điều tiết vì những lợi ích xã hội, đã được xây dựng khá vững chắc và có khả năng “đề kháng” với những bất trắc của kinh tế toàn cầu. Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội cũng đã có những thành tích đáng kể. So với các nước theo mô hình kinh tế thị trường tự do và những nước đang xây dựng nền kinh tế thị trường gặp phải hiện tượng phân hóa giàu nghèo tiêu cực diễn ra với quy mô lớn, tốc độ nhanh và sâu sắc thì mô hình Bắc Âu có sự phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều.
Nhà nước phúc lợi xã hội với chính sách bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội là công cụ điều tiết quan trọng nhất để đạt tới bình đẳng xã hội. Nhà nước chịu trách nhiệm chính cho toàn bộ phúc lợi của các công dân. Trách nhiệm nhà nước ở đây mang tính toàn diện, khá chu đáo cho tất cả, đều do một “mạng lưới an sinh xã hội” bảo đảm. Mô hình này đã khá thành công cả về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội theo hướng dân chủ, công bằng, văn minh. Các nước này trong nhiều năm qua, về mọi tiêu chí tích cực luôn nằm ở tốp dẫn đầu của thế giới. Đây là những quốc gia có độ ổn định cao về chính trị, có khả năng cạnh tranh về kinh tế, phúc lợi xã hội cao (giáo dục, y tế, an sinh…) và đạt được chỉ số hạnh phúc rất cao(1). Mô hình nhà nước phúc lợi Bắc Âu đề cao tính hiệu quả (efficiency), hiệu lực (effectiveness), công bằng xã hội (social equality), bền vững (sustainability). Phát triển xã hội, phát triển con người là mục đích cao nhất trong quá trình phát triển. Các nước Bắc Âu cho rằng, muốn có nguồn lực để thực hiện phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống con người, thì cần phải có nhiều của cải vật chất, và muốn vậy, thì cần phải thúc đẩy phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế sẽ là tốt nhất trong nền kinh tế dựa trên thị trường cởi mở, hiệu quả.
b) Quản lý phát triển hiện đại, hạn chế được nhiều khuyết tật của kinh tế thị trường
Chính phủ năng động, khắc phục nhanh tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế và đang thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0. Hiện nay, Bắc Âu là một trong những khu vực hội nhập nhất và là nền kinh tế lớn thứ 11 của thế giới với tổng giá trị GDP là 1.416 tỷ USD(2).
Kinh tế thị trường xã hội của các nước Bắc Âu là một trong những mô hình phát triển được xem là khá phù hợp hiện nay. Tính chất xã hội, giá trị xã hội, hiệu quả tích cực với phát triển xã hội là yêu cầu pháp lý và đạo đức của loại hình thị trường này. Như một quan niệm “mô hình đó là một công thức hòa giải giữa nguyên lý tự do trên thị trường và nguyên lý cân bằng xã hội trong một khung trật tự được nhà nước kiến tạo và bảo vệ”(3). Nền kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kết hợp tự do cá nhân, năng lực hoạt động kinh tế với điều tiết của nhà nước vì tiến bộ và công bằng xã hội.
Tư tưởng chủ đạo của mô hình này là: tự do thị trường, tự do kinh doanh, không có sự khống chế của độc quyền, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, bảo vệ hệ thống kinh tế tư bản, nêu cao tính độc lập kinh tế và “trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp, thừa nhận vai trò quan trọng của nhà nước trong quản lý phát triển để đảm bảo phối hợp tự do kinh tế với các quy tắc của một xã hội công bằng, bình đẳng. Trên thực tế, trong mô hình Bắc Âu, nhà nước là “người cầm lái” – định ra thể chế kinh tế thị trường, và là cơ quan thu thuế và tái phân phối phúc lợi xã hội có được, chức năng kinh doanh của nhà nước gần như nhường lại cho thị trường. Nguyên tắc phân phối là vừa phát huy đầy đủ tính tích cực xã hội về mọi mặt và nâng cao năng suất lao động, lại vừa không để xuất hiện chênh lệch phân phối quá lớn. Nhà nước phúc lợi thông qua luật pháp và chính sách điều chỉnh để doanh nghiệp tư nhân cũng có trách nhiệm xã hội. Chính phủ thực hiện phân phối các của cải đó một cách hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người lao động và dùng thuế lũy tiến khá mạnh tay(4) để điều tiết những người có thu nhập cao. Nguồn lực của các nhà nước của mô hình này cũng theo đó, luôn chủ động và dồi dào.
Các tiêu chuẩn cơ bản của nền kinh tế thị trường xã hội Bắc Âu gồm: Thứ nhất, đảm bảo quyền tự do cá nhân nhưng là “chủ nghĩa cá nhân nằm ngang” – hàm ý mọi cá nhân đều có cơ hội phát triển như nhau trong sự điều chỉnh của nhà nước chứ không phải là “chủ nghĩa cá nhân thẳng đứng” của kinh tế thị trường tự do. Thứ hai, nhà nước bảo đảm công bằng xã hội thông qua các chính sách kinh tế và xã hội như luật kinh doanh, thuế thu nhập lũy tiến và phân phối lại… Thứ ba, chính sách kinh doanh theo chu kỳ – nhà nước có chính sách khắc phục hậu quả của khủng hoảng chu kỳ, điều chỉnh mất cân đối, vốn là những hiện tượng thường diễn của thị trường toàn cầu. Thứ tư, chính sách tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển xã hội công bằng và tiến bộ. Thứ năm, chính sách để kiến tạo một cơ cấu kinh tế hiện đại – được coi là tiêu chuẩn đặc trưng, hạt nhân trong chính sách tăng trưởng nhằm giải quyết vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đào tạo nhân lực theo yêu cầu cách mạng công nghiệp hiện đại. Thứ sáu, bảo đảm tính phù hợp với thị trường, hạn chế sự cạnh tranh quá mức (hình thành các tổ chức độc quyền) và cũng hạn chế sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào hoạt động của thị trường…
Mô hình Bắc Âu theo đuổi các mục tiêu: bảo đảm và nâng cao tự do về vật chất cho mọi công dân bằng cách bảo đảm cơ hội kinh doanh và hỗ trợ cho các cá nhân tham gia bằng một hệ thống bảo hiểm xã hội. Đây là nền kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ sáng kiến cá nhân và lợi ích toàn xã hội, đồng thời phòng tránh được các khuyết tật lớn của thị trường, chống lạm phát, giảm thất nghiệp và những bất trắc khác qua hệ thống bảo hiểm đa diện, đa dạng. Các quyết định kinh tế và chính trị của nhà nước được hoạch định trên cơ sở quan tâm đến những nhu cầu cá nhân và hài hòa nó với lợi ích cộng đồng. Thực hiện công bằng xã hội cả trong khởi nghiệp và phân phối đã giúp cho ổn định bên trong của xã hội. Nó góp phần khắc phục được những khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường như cạnh tranh khiến cho phân tầng, phân cực xã hội sâu sắc, theo đuổi lợi nhuận cá nhân đôi khi hy sinh lợi ích xã hội…
Các chính phủ Bắc Âu đã chứng minh được phẩm chất quản lý minh bạch bên cạnh khả năng điều hành nền kinh tế với trình độ “trị quốc tốt nhất thế giới”. Nắm giữ trong tay một nguồn lực khổng lồ của xã hội (nhà nước Thụy điển quản lý hơn 60% tài sản của xã hội, nhà nước của các nước Bắc Âu khác thấp hơn một chút nhưng về tỷ lệ vẫn luôn cao hơn khi so với Mỹ – 25%, Anh, 31%) lại có quyền năng của “bàn tay hữu hình”, nhưng Bắc Âu cũng luôn đạt thứ hạng cao trong các xếp hạng về chính phủ minh bạch, lòng tin của xã hội và có mức tín nhiệm với các thể chế chính trị hiện hành. Những khảo sát của Tổ chức minh bạch quốc tế trong thời gian gần đây đều đánh giá cao các nước Bắc Âu về thành tích trong các chỉ số về minh bạch, hạn chế tham nhũng và hạn chế lạm quyền(5).
c) Xây dựng đồng thuận và lòng tin xã hội để phát triển kinh tế – xã hội
Niềm tin xã hội hay lòng tin xã hội (social trust) là sự tin tưởng vào độ trung thực, tử tế của người khác. Nó là tiền đề cho quan hệ giữa người với người, là điều kiện cơ bản để duy trì đời sống cộng đồng. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng lòng tin xã hội tạo nên một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho đất nước, cấu thành “vốn xã hội” (social capital). Lòng tin giữa các công dân với nhau đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, độ ổn định, hiệu quả và dân chủ của chính phủ, hội nhập xã hội, mức độ hài lòng và hạnh phúc, sự lạc quan, sức khỏe… Nó tỷ lệ thuận với phồn vinh và an sinh(6).
Có một nhận định khá đúng rằng: “Độ tin cậy cao là một giá trị vàng đã được khẳng định, nằm trong hệ giá trị Bắc Âu. Ở Bắc Âu, sáu đặc tính phổ biến dễ dàng được tìm thấy là: trung thực, công bằng, hiệu quả, tận tâm, tin tưởng vào chính phủ, bình đẳng giới và văn hóa đồng nhất(7). Vai trò to lớn và tác động tích cực, đa diện của niềm tin xã hội đối với quá trình phát triển của mô hình Bắc Âu đã được nhiều công trình mô tả và khẳng định(8).
Niềm tin xã hội của công dân với các chính phủ Bắc Âu giúp cho xã hội vừa năng động trong kinh tế thị trường lại vừa cân bằng, hài hòa trong nhà nước phúc lợi, nơi mà các điều khoản xã hội trong kinh doanh có vẻ tiết chế khá mạnh những hưng cảm tìm kiếm lợi nhuận. Nhà doanh nghiệp vẫn mải miết với cuộc tìm kiếm để tăng thu nhập và họ vẫn luôn tin tưởng rằng thuế lũy tiến từ nhà nước là công bằng và cao hơn nữa là công lý; rằng những đóng góp vào thuế của mình sẽ quay trở lại với các khoản chi phúc lợi xã hội; rằng đó là những quy định đúng mực và có ích cho cả xã hội. Đó là niềm tin xã hội, tuy khá hiếm hoi trong kinh tế thị trường tự do nhưng lại khá phổ biến trong kinh tế thị trường xã hội của Bắc Âu. Rõ ràng, đạt được công bằng trên thực tế và lòng tin của xã hội vào nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.­
Những người dân chủ xã hội cầm quyền của Bắc Âu đã xây dựng được mô hình nhà nước liêm chính, thân thiện và trong sạch trước sự giám sát chặt chẽ của pháp luật. Một nhà nước thượng tôn pháp luật, pháp luật chi phối các quan hệ cơ bản trong xã hội trở thành nguyên tắc chính trị quan trọng ở các nước Bắc Âu. Những quy định chặt chẽ của nhà nước đối với các quyền, lợi ích và trách nhiệm của công chức, viên chức, sự tự giác rèn luyện tác phong bình dị, vì dân, đạo đức công vụ và uy quyền của công luận… có thể là những nhân tố hỗ trợ đắc lực cho nhà nước liêm chính này. Có một nhận xét đáng lưu ý: “Điều làm cho nhiều người ngạc nhiên là tại sao các nước Bắc Âu có thể trở nên thịnh vượng và tăng trưởng tốt với các khuyến khích kinh tế được xem là yếu đi cùng với thuế suất rất cao, một hệ thống an sinh xã hội hào phóng và chế độ phân phối bình quân. Để có được điều này, sự khác biệt nằm ở mức độ tin tưởng cao, và không dễ tìm được ở nơi nào khác, tạo nên một mô hình Bắc Âu độc đáo và ngoại lệ…”(9).
Các nước Bắc Âu đã coi lòng tin xã hội là một thứ vốn trong kinh doanh, là chất keo gắn kết cả xã hội vào một khối mà nhân lõi của nó là nền chính trị của dân, do dân, vì dân.
2. Những gợi mở để phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội hiện nay
a) Mô hình Bắc Âu gợi một tham chiếu về phương thức phát triển tiệm tiến trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Vẫn có không ít vấn đề lý luận đặt ra hiện nay đối với CNXH dân chủ. Biện pháp bị coi là “cải lương CNTB” đã gây nhiều tranh cãi. Có ý kiến cho rằng đó là sự tự điều chỉnh của CNTB, hoặc là cách để kéo dài CNTB, lại có ý kiến lại cho rằng đó là cách để vượt qua CNTB hoặc là một kiểu để phủ định CNTB… Mô hình này cũng có nhiều vấn đề trên thực tế, như: Nhà nước phúc lợi xã hội cùng hệ thống thuế, đặc biệt là thuế thu nhập lũy tiến, có lúc gây tình trạng “đóng băng sản xuất” và nảy sinh sự ỷ lại, lạm dụng.
Nhưng cũng cần thấy rằng, các Đảng dân chủ xã hội cánh tả trong vị thế cầm quyền, đã hiện thực hóa một số tiêu chí của CNXH, đã bảo vệ và mang lại cho nhân dân nhiều quyền lợi và qua đó làm giảm bớt những khuyết tật, hạn chế của CNTB. Mô hình Bắc Âu và một số nơi khác đã gián tiếp xác định rằng, cần phải vượt qua CNTB.
Ngày nay quan niệm mang tính chất giáo điều rằng: “đó là những biện pháp cải lương xã hội tư bản, là để duy trì CNTB…” đang tỏ ra thiếu thuyết phục. Ở những nước này, chế độ TBCN vẫn là một thực tại hiện hữu, nhưng không thể phủ nhận những nhân tố, tiền đề cho CNXH, thậm chí có cả những mảnh ghép của xã hội tương lai đang định hình. Ở những nước này, các đảng dân chủ – xã hội đang là đảng cầm quyền lâu dài dù trong cơ chế đa nguyên. Xen lẫn với tính chất tư sản khó tránh, người ta cũng nhận thấy những ảnh hưởng ở mức độ khá sâu rộng, nhiều tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Ở những nước này, không quá khó để thấy những cách tiếp cận, những quan niệm khác biệt với các mô hình CNXH kiểu cũ, nhưng cũng không thể phủ nhận được những thành quả của các đảng dân chủ xã hội làm được cho phát triển xã hội trong tiến bộ, dân chủ, công bằng và văn minh. Ở những nước này, kinh tế thị trường xã hội với những nguyên tắc khá đầy đủ của kinh tế thị trường nói chung, vẫn chịu sự chi phối mạnh mẽ từ bàn tay hữu hình của nhà nước phúc lợi, nhà nước kiến tạo và gợi ý rất nhiều về quản lý kinh tế – xã hội trong bối cảnh hiện nay… Những khái niệm tích cực về nền kinh tế thị trường hiện đại mà hiện nay trên thế giới khá phổ biến như “trách nhiệm xã hội doanh nghiệp”; “chính phủ kiến tạo”, “đồng thuận xã hội”… đều là những đúc kết lý luận từ thực tế của mô hình Bắc Âu. Mô hình này, như ý kiến của một nhà nghiên cứu: “xuất hiện trong lòng chủ nghĩa tư bản, hiện nay chưa trực tiếp đe dọa sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, nhưng trong tương lai lâu dài sẽ phủ định chủ nghĩa tư bản theo cách thức do lịch sử lựa chọn”(10).
Nên nhìn nhận đó cũng là một trong những biện pháp mà thực tiễn đòi hỏi trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong thời kỳ quá độ, tư duy hợp lý là cần phải chấp nhận những hiện tượng “vừa là A, lại vừa là phi A”, những “trung giới”, những biện pháp quá độ, những trạng thái “đan xen giữa các nhân tố XHCN và các nhân tố TBCN”,… Và, theo tư tưởng của Lê nin, đó cũng chính là quá trình mà “mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ…”(11) trên con đường đi lên CNXH.
b) Những gợi ý cho quản lý phát triển trong xây dựng CNXH
Đối với CNXH cải cách, đổi mới, mô hình Bắc Âu cung cấp nhiều kinh nghiệm đáng tham chiếu về vai trò và phương thức quản lý của nhà nước với kinh tế thị trường, dân chủ hóa đời sống xã hội thông qua nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Mô hình nhà nước kiến tạo, nhà nước phúc lợi của Bắc Âu cũng nêu những thực tế để tham chiếu cho xây dựng nhà nước kiến tạo ở Việt Nam.
Đáng lưu ý là kinh nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường, có lẽ đây là vấn đề khó khăn nhất của các nước XHCN đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chính thực tế Bắc Âu đã cho thấy, có thể vừa làm năng động, tăng hiệu quả của hoạt động kinh tế thông qua kinh tế thị trường, vừa xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, đồng thuận thông qua nhà nước phúc lợi và gần đây là nhà nước kiến tạo.
Những thành công của các nước Bắc Âu qua mô hình thị trường xã hội cũng cổ vũ các nước XHCN đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đời sống của nhân dân được nhà nước chăm lo thông qua hệ thống phúc lợi đa dạng và rộng khắp. An sinh xã hội đã được thực hiện thông qua sự kết hợp giữa vai trò tích cực của nhà nước và thị trường đã bị kiềm chế những mặt tiêu cực. Hai “bàn tay”, hữu hình và vô hình đã có thể cùng tương tác để xây dựng CNXH thông qua vai trò to lớn của một đảng cầm quyền lâu dài và thực sự vì dân.
Thời kỳ quá độ được các nhà kinh điển nhấn mạnh tính chất trung gian giữa hai hình thái kinh tế xã hội cũ và mới, tính đan xen, tính chất không thuần nhất. Bởi vậy, cần có tư duy phù hợp về những biện pháp quá độ, những trạng thái quá độ của kinh tế và chính trị trên thế giới hiện nay. CNXH dân chủ có nhiều quan niệm và cách làm khác biệt, song cần tư duy khách quan, đổi mới và cởi mở trên tinh thần “cầu đồng, tồn dị” (hướng tới cái giống nhau, chấp nhận cái khác nhau) mới có thể tìm tòi được những gợi mở, tham chiếu để phát triển tư duy lý luận.
Phân định tính chất TBCN hay XHCN của một mô hình xét đến cùng, bao giờ cũng là hạnh phúc đạt được của nhân dân, của đa số trên thực tế. Ở những nước Bắc Âu, chế độ TBCN vẫn là một thực thể hiện tồn nhưng nó cũng đang tự phủ định bằng cách tích lũy những nhân tố, tiền đề XHCN trong lòng nó thông qua các tiến hóa xã hội hướng tới nâng cao mức sống của nhân dân.
Đây là một hướng tìm tòi của nhân loại để hướng tới CNXH, là một cách để phủ định CNTB. Nên coi nó như là một phương thức tiệm tiến để phát triển của thực tiễn. Những nhận định mang tính tả khuynh, phân liệt của giai đoạn trước đây về CNXH dân chủ tuy đã bị phê phán, vẫn cần đề phòng sự rơi rớt ảnh hưởng của nó trong tư duy về CNXH hiện thực hiện nay.
———————-
Chú thích:
(1) Năm 2016 và 2017, Phần Lan, Thụy điển, Nauy, Đan Mạch được coi là những quốc gia phát triển thành công, bền vững nhất thế giới.
(2) Tọa đàm tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 16-3-2018, với đại sứ các nước Bắc Âu, nhân ngày Bắc Âu “16 Tháng Ba” (1952 – 2018).
(3) Ludwig Erhard và Alfred Müller-Armack: Kinh tế thị trường xã hội. Tuyên ngôn’72 (Soziale Marktwirtschaft. Manifest’72). ISBN 35-4803-647-3.
(4) Ở Thụy Điển, người có thu nhập từ 81.000 USD/ năm, nhà nước nước đánh thuế 56,6%.
(5) The Economist, Các nước Bắc Âu có lẽ trị quốc tốt nhất thế giới, 2-2-2013, bản dịch của Phạm Vũ Lửa Hạ & pro&contra, 2013.
(6) Phạm Vũ Lửa Hạ: Lòng tin xã hội – những giá trị Phần Lan, từ sách “Lửa trời, đuôi cáo – 100 câu truyện Phần Lan”.
(7) Federal Reserve Bank of Philadelphia: (2014) The Nordic model: successes, challenges & the future, http://www.norwegianamerican.com.
(8) Xem: Hồ thị Nhâm, Lòng tin xã hội nhìn từ Bắc Âu, Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2018
(9) Torben M. Andersen, Bengt Holmstrom… The Nordic model. Embracing globalization and sharing risks, Printed in Yliopistopaino, Helsinki, 2007. ISBN 978-951-628-468-5.
(10) GS Nguyễn Đức Bình (chủ biên): Những đặc điểm lớn của thế giới đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, 2007, tr. 69.
(11) V.I.Lênin: Toàn tập, t.30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.160.
———————-
Tài liệu tham khảo:
1. Thomas Mayer: Tương lai của nền dân chủ xã hội, Nxb Lý luận chính trị, 2007.
2. (GS.Wolfgang Merkel, PGS Christoph Egle, Alexander Petring, Cristian Henker): Các đảng dân chủ xã hội châu Âu – cải cách và thách thức, Nxb Chính trị hành chính, Hà Nội, 2011.
3. Tống Đức Thảo, Bùi Việt Hương (đồng chủ biên): Trào lưu xã hội dân chủ ở một số nước phương Tây hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
4. TS Nguyễn Văn Sáu & TS Cao Đức Thái: Đảng Dân chủ xã hội Đức, lịch sử, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.
5. Tiêu Phong (Sách dịch): Hai chủ nghĩa – một trăm năm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
6. Ngô Thế Phúc (Chủ nhiệm): Chủ nghĩa xã hội dân chủ lịch sử hiện trạng và ảnh hưởng, Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2010.
7. PGS, TS Nguyễn An Ninh: Về CNXH dân chủ châu Âu, Chuyên đề cho Giáo trình đào tạo Cao học – NCS Chủ nghĩa xã hội khoa học,Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2013.

 
Copyright © 2013-2033 CÔNG NGHỆ ET
Powered by MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT