BREAKING NEWS

Phát triển Tâm thức

MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT

Chuyển hóa Địa cầu

From our Blog

Tại Sao Mọi Người Tin những Chuyện Bịa Đặt và Tám Cách để Thay Đổi Nó

Một số người tin đủ thứ kỳ quặc, ví dụ như...

... không, thực ra có một lý do tâm lý rất xác đáng khiến tôi không lặp lại những thứ đó ở đây.

Tôi chỉ muốn nói rằng một số người tin những điều rất kỳ lạ. Và một trong những lý do khiến mọi người chấp nhận những ý tưởng kỳ quặc là vì nó được lặp lại, ngay cả khi chỉ để phản bác chúng.

Vậy tất cả những thông tin sai đến từ đâu, tại sao mọi người tin nó và làm thế nào những người biết thông tin đúng có thể thay đổi niềm tin của họ?

Thông tin sai đến từ

1. Những tin đồn và câu chuyện bịa đặt

Con người ưa thích những câu chuyện giật gân, gây xúc động mạnh. Họ thích truyền bá những câu chuyện làm người nghe rất hạnh phúc, ghê tởm, phẫn nộ hoặc sợ hãi: bất kỳ điều gì gây ra phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.

Những câu chuyện trung tính, có thể có nhiều khả năng là sự thật, nhưng nhàm chán hơn, và do đó nhận được ít sự chú ý.

Kỳ lạ hơn, nghiên cứu cho thấy mọi người tin vào những điều rõ ràng là bịa đặt mà họ từng đọc trong tiểu thuyết. Điều này đúng ngay cả khi:
  • Chúng rõ ràng là tiểu thuyết bịa đặt,
  • và khi họ được cho biết rằng cuốn tiểu thuyết bịa đặt đó chứa những thông tin sai,
  • và khi sự thật được biết tương đối rộng rãi.
Điều này có thể một phần vì sự phòng vệ của mọi người có xu hướng trở nên thấp hơn khi họ tiêu thụ các sản phẩm giải trí phổ biến.

2. Những nhà chính trị

Hầu hết chúng ta đều biết rằng các chính trị gia sẽ nói bất kỳ điều gì để được bầu, nhưng chúng ta có thể phân biệt được giữa sự thật và những lời nói dối mà họ nói không?

Các nghiên cứu phát hiện thấy, trong thực tế, mọi người rất khó để biết được sự khác nhau. Có vẻ như việc biết các chính trị gia nói dối không ngăn được mọi người tin vào những lời dối trá đó.

3. Giới truyền thông

Lý do thông thường của thông tin sai ở các phương tiện truyền thông là sự đơn giản hóa quá mức và sự cần thiết tạo ra sự cân bằng. Nhu cầu về sự cân bằng là một điều thú vị vì bản thân các vấn đề không phải lúc nào cũng "cân bằng".

4. Mạng Internet

Có rất nhiều điều tốt đẹp để nói về mạng Internet, nhưng nó vẫn là nguồn của rất nhiều thông tin sai. Dưới đây là một ví dụ đáng sợ:
Một cuộc khảo sát 50 trang web đầu tiên xuất hiện khi tìm kiếm cụm từ "chế độ ăn giảm cân" cho thấy chỉ có 3 trong số đó cho bạn những lời khuyên đúng đắn.
Thêm nữa, con người có xu hướng tìm kiếm thông tin nhằm xác nhận, củng cố những quan điểm họ đang có. Và điều này trở nên dễ dàng hơn nhiều trong hiện tại khi mạng Internet mang đến đủ loại quan điểm. Cho dù mọi người tin vào điều gì đi nữa, họ luôn có thể tìm được những người khác cùng quan điểm để hỗ trợ họ.

Tại sao con người tin những thông tin sai

Rõ ràng là những điều dối trá và thông tin sai trôi nổi ở khắp mọi nơi. Nhưng nếu tất cả chúng ta đều biết rằng các chính trị gia, giới truyền thông và mạng Internet đôi lúc nói dối, thì làm thế nào một số người vẫn tin chúng?

Vấn đề là cách thức con người tin (hoặc không tin) điều gì đó về cơ bản là rất kỳ quặc. Rất ít người buồn kiểm tra lại những sự kiện, cơ sở lập luận đó; hầu hết mọi người sử dụng một số suy nghĩ tắt:

1. Cảm thấy nó đúng? Thông tin mới có phù hợp với những điều tôi đã tin không? Ví dụ, một người theo Đảng Cộng Hoà nhiều khả năng sẽ chấp nhận những lời nói dối về nơi sinh của tổng thống Obama vì lời nói dối đó tiện lợi cho họ.

2. Nó có lý không? Những điều dễ hiểu thì dễ tin hơn. Tâm trí con người cự tuyệt những thứ phức tạp, tự bảo vệ nó bằng cách nói rằng : ôi dào, đấy có thể là một thứ bịa đặt
3. Nguồn có đáng tin không? Những người có vẻ có uy quyền, như những người ở vị trí quyền lực, có nhiều khả năng được tin tưởng hơn. Ví dụ, các bác sĩ có thể gây ra rất nhiều thiệt hại bằng cách đưa ra lời khuyên tồi một cách công khai vì mọi người có xu hướng tin họ.

4. Những ai khác cũng tin nó? Con người thích đi theo "bầy đàn". Không may là con người cũng có thành kiến rằng hầu hết mọi người đều nhất trí với họ, ngay cả nếu trong thực tế, mọi người không như vậy.

Nhưng những điều này vẫn chưa giải thích được tại sao mọi người tiếp tục tin vào những thứ kỳ quặc,ngay cả sau khi nó được chứng minh với họ là sai lầm. Ngay cả khi thông tin sai hoàn toàn được rút lại và những người liên quan thừa nhận đó là những lời dối trá, thì vẫn rất khó để giết chết thông tin sai.

Một cách giải thích là dựa trên cách hoạt động của trí nhớ: chúng ta có xu hướng nhớ lại ý chính của một điều gì đó dễ dàng hơn nhiều so với nhớ lại những chi tiết chính xác. Thường thì điều này là thuận tiện vì nó có nghĩa là chúng ta có thể học những điều cụ thể, ví dụ như nấu thịt bò làm nó dễ tiêu hoá hơn, và khái quát hóa nó thành sự thật là nấu nướng làm nhiều thức ăn ngon hơn.

Mặt hạn chế của điều này là mọi người dễ dàng nhớ lại ý chính của một số thông tin sai và quên rằng họ nghe thông tin đó từ một nguồn hoàn toàn không đáng tin.

8 cách chống lại thông tin sai

Vậy, có thể tiêu diệt những thông tin sai không? CÓ, nhưng rất khó và bạn sẽ cần sự giúp đỡ từ 8 kỹ thuật tâm lý sau:

1. Nhiều hơn sự thật

Thay đổi tâm trí mọi người không chỉ là nói với họ rằng họ đã sai; giá mà chỉ dễ dàng như vậy. Để bị thuyết phục, mọi người cần nghe một sự giải thích thay thế tại sao nó lại như vậy, chứ không chỉ đơn giản thông tin sai là sai. Lý tưởng hơn, bạn cũng nên giải thích động cơ cho những lời nói dối.

2. Ngắn gọn và êm dịu

Sự giải thích thay thế không nên quá phức tạp. Nó càng ngắn gọn thì càng hiệu quả. Đưa ra quá nhiều lời giải thích và mọi người sẽ bịt tai. Chỉ cần một vài sự thật nổi bật.

3. Đừng lặp lại những điều hoang đường

Tránh lặp lại điều hoang đường. Nhớ rằng mọi người thấy dễ dàng nhất khi nhớ lại ý chính của một điều gì đó. Nếu bạn liên tục lặp lại điều hoang đường, bạn đang tự làm hại mình.

4. Nói về thông tin sai

Bạn sẽ phải lặp lại điều hoang đường một lần, để mọi người biết bạn đang nói về cái gì. Vì vậy, nói cho họ biết trước rằng điều bạn sắp nói là thông tin sai.

5. Sự thật, sự thật, sự thật

Liên tục lặp lại sự thật. Sức mạnh của việc lặp đi lặp lại để ảnh hưởng đến mọi người là rõ ràng. Liệu đã nhiều người biết về về nguồn gốc thực sự và sự hỗ trợ cho Nhà nước Hồi giáo tự xưng ISIS và các vụ khủng bố có phải là "False Flag"?
6. Tấn công nguồn của thông tin 

Nguồn của thông tin sai là gì? Nó có đáng tin không? Chắc chắn là không! Khuyến khích mọi người trở nên đa nghi một chút có thể có lợi. 

Một trong những thách thức ở đây là mọi người có xu hướng tin những người nói điều phù hợp với thế giới quan của họ. Do đó bạn cần... 

7. Khẳng định thế giới quan 

Bạn cần giữ người nghe bên phía bạn, ngay cả khi bạn nói với họ điều họ không muốn nghe. Bạn có thể làm điều này bằng cách đặt vấn đề theo cách nhìn của họ. Ví dụ bạn có thể nói với một người đang nghi ngờ sự thật về nơi sinh của tổng thống Obama: "Này, cả hai chúng ta đều chẳng ai thích Obama và những chính sách của ông ta cả. Nhưng sự thật là ông ta sinh ra ở Hawaii." 

Nói với mọi người những điều họ không muốn nghe là một hành động cân bằng. Bạn phải đi đủ xa để nói được điều bạn muốn nói, nhưng không quá xa khiến người nghe thấy phản cảm. 

8. Khẳng định bản sắc 

Một cách khác để tránh sự kháng cự tự nhiên của mọi người trước những sự thật họ thấy khó chịu là khẳng định bản sắc của họ. Bạn có thể gián tiếp làm mọi người nghĩ về những điều quan trọng đối với họ như gia đình, bạn bè và những lý tưởng. 

Nghiên cứu cho thấy điều này giúp mọi người xử lý với sự không nhất quán giữa niềm tin của họ và những thông tin mới xung đột với nó. 

Bùn thì dễ dính 

Dĩ nhiên tất cả các kỹ thuật này đều đã được sử dụng bởi những người muốn lái và ảnh hưởng quan điểm công chúng. Đó cũng là lý do tại sao cần biết về chúng. 
Kỹ thuật sửa chữa thông tin sai hoàn toàn không khác gì kỹ thuật của những người muốn lan truyền thông tin sai thay thế các quan điểm đúng đang có của người nghe. Do đó, điều quan trọng là công chúng có một hiểu biết cơ bản về tác động của thông tin sai... Khi công chúng nhận thức rộng rãi rằng có nhiều người thường "ném bùn" vì họ biết rằng nó sẽ "dính", họ có được nhận thức đúng đắn hơn.

Nhận xét: 

Bình thường ai cũng muốn tin rằng họ luôn suy nghĩ tỉnh táo, có thể phân biệt sự thật với dối trá và chỉ tin vào những gì đáng tin. Nhưng bài viết này cho thấy sự thật đáng sợ là con người có thể tin vào những điều hoàn toàn trái với lẽ thường, chỉ vì một số kỹ thuật tâm lý, và một khi họ đã tin vào điều gì, rất khó để thay đổi nó. Đây là điều mà những kẻ thái nhân cách, bậc thầy trong việc quan sát tâm lý con người, đã biết và sử dụng từ lâu. Không phải vô tình mà hầu hết các phương tiện truyền thông phương tây đều nằm dưới sự kiểm soát của một số rất ít công ty. Và khi những cỗ máy tuyền truyền đó (bởi vì chúng đúng là như vậy) lặp đi lặp lại những lời dối trá của các chính quyền phương tây, ví dụ như chuyện những kẻ cướp máy bay người Ả rập trong vụ tấn công 11 tháng 9, hay vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam Hussein, hay những lời dối trá về Putin và nước Nga hiện nay, hầu hết mọi người sẽ tin đó là sự thật.

Như đoạn kết của bài viết này nói, cách duy nhất để chống lại tình trạng đó là luôn nhớ rằng mọi người có thể "ném bùn", đặc biệt là những kẻ thái nhân cách thì luôn luôn như vậy, và kiểm tra mọi sự kiện và cơ sở lập luận mà bạn được nghe.

Một chút về Phong Thủy - Cách Tăng cường "Thổ khí" cho ngôi nhà, văn phòng của bạn


Trong giai đoạn vận 8, cách tốt nhất để nâng cao chất lượng năng lượng trong nhà của bạn là tăng cường Thổ Khí cho nó. Việc tăng cường các vật khí bằng đá trong nhà bạn trong giai đoạn hiện tại để nâng cao năng lượng trong nhà bạn đồng nghĩa với việc nhà bạn có phong thủy tốt.
Theo quan điểm của các nhà Phong thuỷ, tăng cường năng lượng của Thổ Khí thông qua các vật khí như: tử thuỷ tinh động, cầu phong thuỷ, trụ đá, tượng đá..v.v... bằng thạch anh, đá ngọc và các loại đá tự nhiên khác trong thời kỳ Thổ Khí đương vượng thì cũng giống như các bạn đã mang được các năng lượng tốt của thiên nhiên vào ngôi nhà của bạn. Đó cũng là cách kết hợp ba yếu tố Thiên - Địa - Nhân trong môi trường sống của bạn.
Chúng tôi đưa ra một số các tăng cường Thổ Khí để các bạn tham khảo ứng dụng:
- Bạn nên sử dụng đá cẩm thạch, đá granite hoặc gạch để lát nền của tầng một ngôi nhà bạn. Nên lựa chọn các loại gạch lát nguyên tấm, không nên chọn loại có vết rạn, nứt. Bất cứ sự rạn nứt, vỡ tại nền gạch lát tầng một đều có thể là nguyên nhân của những điều lộn xộn, mất ổn định cho công việc và cuộc sống của bạn. Không nên làm sàn gỗ tại tầng một ! Nên lưu ý điều này.
- Nếu có thể, bạn nên lát đá xung quanh nền móng của nhà bạn để mang lại các trường khí tốt cho ngôi nhà. Nếu không có không gian thì bạn có thể chọn cách lát 4 viên đá tại 4 góc của sàn nhà cũng là phương pháp hay để tăng Thổ Khí cho ngôi nhà của bạn. Với những ngôi nhà có không gian rộng, bạn nên làm biểu tượng Núi Vàng (đó là sự kết hợp các viên đá tạo hình dáng một ngọn núi, kết hợp những lá bằng đồng gắn trong khe núi đá) trong khuôn viên nhà để chiêu tài và đón quý nhân.
- Tạo một bức tường đá phía sau nhà bạn với hình núi hoặc dãy núi để tăng sự hỗ trợ cho bạn. Theo phong thuỷ thì "Núi quản nhân đinh, Thuỷ quản tài", vì thế sau nhà có núi sẽ tăng cường người hỗ trợ cho bạn. Không cần phải làm một bức tường lớn, bạn chỉ cần làm cao khoảng 1,2m hoặc hơn chút là đủ.
- Tạo một khoảng trống hình vuông và đổ đầy cát hay sỏi để tăng cường Thổ Khí phía mặt trước của ngôi nhà. Điều này có ý nghĩa tăng cường Thổ Khí thông qua các biểu tượng từ đất.
- Trong phong thuỷ, các con số 2 (sao Nhị Hắc), 5 (sao Ngũ Hoàng), 8 (sao Bát Bạch) được đại diện cho Thổ Khí. Bạn có thể sử dụng những con số này để tăng cường Thổ Khí. Ví dụ, chọn hai tinh thể hình tròn, năm loại đá màu vàng và tám viên sỏi có kích thước trung bình để đặt vào hố cát trước nhà hoặc cho vào đĩa, bình bày trong nhà. Bạn có thể nhấn mạnh số nào bạn muốn, nên chọn số 8 vì hiện tại trong giai đoạn vận 8 thì số 8 là số đương vượng, có thể nó sẽ mang lại may mắn cho bạn. Đặc biệt là sự kết hợp của dãy số 2,5,8 sẽ mang lại nhiều may mắn cho gia đình bạn.
- Treo một bức tranh có nội dung núi cũng là một cách tăng cường Thổ Khí và mối quan hệ cho bạn. Bạn có thể treo tranh phía sau lưng bạn tại bàn làm việc, phòng tiếp khách hay nơi nào bạn thường xuyên ngồi. Việc sử dụng các bức tranh là rất tiện lợi, kinh tế và hợp với nhiều không gian hẹp. Tốt hơn nữa là bạn có thể chọn phương vị có Sơn tinh đang vượng, để treo bức tranh núi thì rất tốt. Để xác định được vị trí có Sơn tinh đương vượng, bạn cần biết cách lập tinh bàn cho ngôi nhà của mình. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia Phong thuỷ.
- Nếu các bạn không thể sử dụng được những cách ở trên để tăng cường Thổ Khí cho ngôi nhà, khu đất, Orgonite là một lựa chọn sáng suốt, chỉ cần đặt Kim Tự Tháp Orgonite vào 4 góc của Phòng Khách, phòng làm việc.
LH: 012 9999 5700

Là Ai đã Khiến Vũ Trụ này Chuyển động?

Liệu bạn có từng nghĩ, lực hút của Mặt trời tác động lên khác hành tinh là khá mạnh, nhưng tại sao các hành tinh không bị hút thẳng về phía Mặt trời mà lại chuyển động vòng quanh nó? Lực chuyển động này từ đâu ra? Hãy xem các nhà khoa học như Newton và Edison chia sẻ quan điểm về vấn đề này.

Newton nói: “Nếu như không có sức mạnh của Thượng Đế thì không thể có tình hình các hành tinh chuyển động quanh mặt trời như vậy. Nếu không có sự giúp đỡ của Thượng Đế, tôi không biết trong giới tự nhiên còn có thể có sức mạnh gì thúc đẩy loại vận động hướng ngang này.
Newton từng nói rằng, thể hệ của mặt trời, hành tinh và vũ trụ đẹp đẽ vô cùng này, chỉ có thể là được sắp xếp và tạo dựng bởi một Đấng Toàn Năng có đầy đủ khả năng, trí huệ và uy quyền. Đấng Toàn Năng này vĩnh viền bất diệt, không nơi nào là không tồn tại, và chính vì “tồn tại bất diệt” và “có mặt khắp mọi nơi” của Đấng Toàn Năng mà đã cấu thành hết thảy thời gian và không gian.
Về sau, Newton tiến một bước về việc thăm dò các vật thể trong vũ trụ, muốn biết được các vật thể lúc ban đầu vì sao lại chuyển động. Kết quả có được sau cùng là Thượng Đế đã tạo nên lần chuyển động đầu tiên, đây chính là “ thuyết chuyển động lần đầu tiên.
Ngoài ra, trong quan hệ giữa vật chất và vận động, Newton cũng phủ nhận sự liên hệ nội tại giữa vật chất và vận động, phủ định vận động là thuộc tính có sẵn của vật chất. Newton cho rằng cội nguồn trong sự vận động của vật chất không nằm ở bên trong của nó, mà là kết quả của tác dụng ngoại lực; mà loại ngoại lực này là độc lập với bên ngoài của vật chất, có thể tạo nên một loại tác dụng trong vận động. Như vậy trong vận động của thiên thể, loại ngoại lực này là gì đây? Newton đưa ra một học thuyết “ vạn vật hấp dẫn”, cho rằng mặt trời có lực hấp dẫn đối với các hành tinh của nó, nhưng nếu muốn khiến cho các hành tinh dưới sức hút của mặt trời không bị hút thẳng đến mặt trời, các hành tinh chính là phải “chuyển động quanh mặt trời.
Newton đã tính toán thử, cùng lúc khi mà các hành tinh chịu tác dụng sức hút của mặt trời, chuyển động theo phương tiếp tuyến của quỹ đạo, cần phải thêm vào một ngoại lực thích hợp, khiến cho hành tinh có tốc độ dọc theo phương hướng tiếp tuyến, như thế mới có thể thực hành được chuyển động quanh mặt trời. Nhưng mà, cái “lực tiếp tuyến” đương sơ này đối với hành tinh là từ đâu đến đây? Newton cho rằng là Thượng Đế đã cấp cho “đẩy chuyển động đầu tiên” cho hành tinh , từ đó về sau hành tinh liền bắt đầu chuyển động quanh mặt trời.
Ông lại tiếp tục nói rằng, trọng lực có thể khiến hành tinh chuyển động. Tuy nhiên “nếu như không có sức mạnh của Thượng Đế thì không thể có tình hình các hành tinh chuyển động quanh mặt trời như vậy. Nếu không có sự giúp đỡ của Thượng Đế, tôi không biết trong giới tự nhiên còn có thể có sức mạnh gì thúc đẩy loại vận động hướng ngang này.” Vì vậy, kết luận của Newton: “Thượng Đế Chí Cao Vô Thượng là một vị Chúa Tể vĩnh hằng, vô hạn và hoàn thiện tuyệt đối.
Edison nhà phát minh nổi tiếng của nước Mỹ mấy trăm năm sau, cũng có cách nhìn tương tự như Newton.
Có một lần, khi mấy phóng viên báo chí yêu cầu Edison, cho phép họ báo cáo rằng ông là học giả phản tôn giáo, Edison đã giận tím cả mặt, và dùng những lời lẽ kiên định trả lời họ rằng: “Những người có tư tưởng triết học, đối với những sự thật thì không thể không thừa nhận, hết thảy đều phải chấp nhận.
Nhìn từ tình huống biểu hiện của vạn vật trên thế gian, vũ trụ xác thật là thành tích vĩ đại trong ý chí của Đấng Toàn Năng; nếu như phủ nhận sự tồn tại của Đấng Toàn Năng Chí Thượng, chúng ta cũng tương đương khinh mạn tri thức của mình. Khoa học và tôn giáo là cùng một nguồn cội, giữa chúng tuyệt đối sẽ không phát sinh xung đột. Tôi tin vào lời dạy của Chúa tôi, con người và vạn vật là do một lãnh tụ chỉ đạo, vận mệnh của thế giới là do một Đấng Chí Thượng chi phối.

Thực Hư Chuyện đo Chỉ Số Bovis đuổi Tà Ma

Theo phản ánh của cựu sĩ quan cao cấp Nguyễn Thành Lập, chỉ số Bovis nhà ở có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của người sống trong nhà. 
Tòa soạn nhận được phản ánh của Kỹ sư, cựu sĩ quan cao cấp Công an Nguyễn Thành Lập về việc nhờ các nhà cảm xạ đo chỉ số Bovis trên người và trong nhà rồi dùng đá năng lượng nâng cao chỉ số xua đuổi tà khí, giúp làm ăn phát đạt, con người khoẻ mạnh... Vậy việc này được thực hiện như thế nào? Tại sao chỉ số Bovis có ảnh hưởng tới cuộc sống của con người? Tin theo chỉ số Bovis có đảm bảo chính xác và đá có hóa giải được nguồn năng lượng xấu? 

Chỉ số Bovis thấp sinh bệnh tật

Theo phản ánh của cựu sĩ quan cao cấp Nguyễn Thành Lập, chỉ số Bovis nhà ở có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của con người sống ở trong nhà. Chẳng hạn, chỉ số Bovis từ 0 - 1.000: Nhà ở có tử khí rất mạnh, một tiềm tàng gây bệnh ung thư cho chủ nhân và những người ở cùng trong ngôi nhà đó. Từ trên 1.000 - 3.000: Nhà ở có nhiều tử khí, rất bất lợi cho sức khoẻ... Từ trên 6.500 - 9.000: Nhà ở có sinh khí cao, sức khoẻ vượng... 
Tuy nhiên, nếu nhà có chỉ số thấp chúng ta cũng không dễ dàng bán nhà đi để chuyển nhà ở đến nơi khác có điều kiện địa sinh học an toàn hơn. Hiện nay, ở nước ta có nhiều người thực hành cải thiện điều kiện địa sinh học nhà ở, nâng cao chỉ số Bovis, từ nhà âm khí, tử khí, thành nhà sinh khí.
Bản thân ông Lập cũng đã nhờ người đến tiến hành đo đạc và cải thiện ngôi nhà ở của gia đình. Bởi theo ông Lập, ngôi nhà của ông tuy có hai mặt tiền (hướng Nam và hướng Tây Nam), trong đó, hướng Tây Nam rất hợp với mệnh trạch của gia chủ nhưng điều kiện địa sinh học trước đây bất an (chỉ số Bovis dưới 5.000) nên gia đình đã nhờ 2 nhà cảm xạ đến đo và giúp cải thiện điều kiện Địa sinh học nâng chỉ số Bovis lên trên 6.500. Thấy đây là một việc làm khoa học rất thiết thực để góp phần nâng cao đời sống sức khoẻ toàn thể nhân dân nên ông Lập phản ánh với Báo.

Ông Khoa giải thích, những chỗ nào trong nhà có nhiều sinh khí thì 2 đũa chập lại. 

Quyết định ly dị, tử khí... chỉ bằng đũa và con lắc
Để tìm hiểu thực hư vấn đề này, phóng viên đã mục sở thị tại nhà ông Chu Thế Khoa (Cầu Giấy, Hà Nội) người nghiên cứu, đồng thời trực tiếp thực hành cải thiện điều kiện địa sinh học nhà ở bằng phương pháp này. Ông Khoa cho biết, ông trước là kỹ sư vô tuyến điện công tác Đài Tiếng nói Việt Nam. Từ rất lâu bản thân ông đã luôn cảm nhận và nghiệm thấy năng lượng đất có ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người. 
Chẳng hạn hồi ở ngôi nhà cũ khi kê giường nằm ở một chỗ ông luôn thấy mệt mỏi, ốm đau, ông đã di chuyển giường sang nơi khác thì hết... Từ cảm nhận ông bắt đầu mày mò nghiên cứu về tia đất và các năng lượng của đất tác động đến con người. Tia đất xấu nằm trên các mạch nước ngầm giao nhau dưới lòng đất nếu ta không biết tránh mà đặt ban thờ, giường ngủ... lên trên đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khoẻ và cuộc sống của gia đình. 
Đặc biệt, nếu các mạch nước giao nhau (3 - 4 mạch) thì vô cùng nguy hiểm, người bệnh sẽ ốm đau nặng. Năm 2009, ông đã theo học cảm xạ, tập rung động thư giãn và thiền... không chỉ khiến các cảm nhận của cơ thể ông ngày càng rõ nét hơn mà ông còn hiểu rõ hơn các vấn đề và có thể dùng dụng cụ đo là con lắc và đũa L để định lượng hóa các cảm nhận cho chính xác. 


Ông Khoa tĩnh tâm để đi vào vô thức. 

Để chứng minh, ông Khoa tịnh tâm để đi vào vô thức, một tay cầm đôi đũa L và tay kia trỏ xuống đất (để thu năng lượng) đi đo ở các điểm khác nhau trong nhà và ngoài sân. Theo bước chân nhẹ nhàng của ông Khoa, tay cầm chắc giữ nguyên không động đậy, có lúc hai chiếc đũa dạt rộng ra hai phía khác nhau, có lúc lại chập lại. Ông Khoa giải thích, những chỗ nào trong nhà có nhiều sinh khí thì 2 đũa chập lại, âm khí thì 2 đũa dạt ra. Trên cơ sở đo đũa để biết nguồn năng lượng cụ thể là bao nhiêu thì dùng con lắc cảm xạ để đo trên xạ đồ đo chỉ số Bovis. 
Nếu chỉ số Bovis từ 0 - 1.000 là chỗ đất xấu vì năm trên giao điểm của từ trường hoặc giao điểm của các mạch nước, nhà ở có tử khí rất mạnh còn được gọi là căn nhà ung thư. Từ trên 1.000 - 3.000 vùng đất có tử khí, là giao điểm của lưới địa từ trường (đũa dạt ra, lắc quay ngược chiều kim đồng hồ) nhà ở có nhiều tử khí không chỉ bất lợi cho sức khoẻ mà còn được gọi là căn nhà ly dị. Từ trên 3.000 - 5.000: Là vùng đất có âm khí (đũa dạt ra, lắc quay thuận) dễ bị bệnh hay còn được gọi là căn nhà bệnh tật. Từ trên 5.000 - 6.500: Nhà có mật độ năng lượng vật lý trung bình, sinh khí trung bình. Từ trên 6.500 - 9.000: Nhà ở có sinh khí cao, sức khoẻ vượng. Vượt trên chỉ số này là nhà có sinh khí cao, tốt cho sức khoẻ và được gọi là cao điểm của vũ trụ. Chỉ số lên trên 18.000 - 20.000 là điểm tập trung sinh khí, đất long mạch lý tưởng rất tốt cho gia chủ cả trong làm ăn và sức khoẻ...
Không chỉ đo chỉ số của nền đất, cũng bằng con lắc và đũa L, ông Khoa còn thực hiện đo nguồn năng lượng này trên con người, thậm chí nhờ vào đó còn biết được có bị vong theo hay không và loại vong theo là: Vong bị phạt, vong trải nghiệm hay vong ngẫu nhiên... Bởi theo lý giải của ông Khoa, vong là một loại năng lượng đặc biệt được biểu hiện dưới dạng sóng và sóng có thể là trường dây năng lượng như thuyết lượng tử đã công bố.

Ông Khoa cùng với phóng viên kiểm tra dòng sinh khí trong nhà. 

Đuổi ma, trừ tà chỉ bằng đá
Ông Khoa cho biết, ông thực hiện việc đo chỉ số Bovis hoàn toàn không lấy tiền, chỉ giúp đỡ bà con, bạn bè qua đó để kiểm nghiệm, nghiên cứu. Trong quá trình đo không chỉ xác định được: Đất âm khí, tử khí, sinh khí, vượng khí mà còn xác định được từng góc như góc tụ tài lộc để đặt bàn thờ, két sắt, góc tốt cho sức khoẻ đặt giường ngủ... và xác định tụ điểm âm khí xấu từ đó tìm cách hóa giải. 
Theo ông Khoa, cách hóa giải rất đơn giản: Không phải sắp đặt lại hay tháo dỡ, không phải cúng lễ... mà chỉ cần đặt đá năng lượng (loại đá thiên nhiên được lấy ở gần miệng núi lửa vùng Nghệ An) để năng lượng từ đá tỏa ra đẩy tà khí và năng lượng xấu giúp khu vực đó có nguồn năng lượng sinh khí, vượng khí tốt cho sức khoẻ. Sau khi đặt đá cần kiểm tra lại vài ba lần, nếu các chỉ số ổn định thì đạt yêu cầu. 

Thực tế thực hiện theo phản ánh của những người ông giúp đỡ thì thấy có chuyển biến trong quan hệ gia đình, sức khoẻ tốt lên và nhờ làm tiếp chỗ nọ, chỗ kia. Chi phí cho việc "cải tạo" này tùy thuộc vào nguồn năng lượng đó được tại nơi ở của mỗi gia đình, có gia đình năng lượng tốt không phải làm gì, có gia đình chỉ có một vài điểm xấu thì cũng mất vài ba cân đá nhưng cũng có những gia đình căn nhà nằm vào vị trí xấu hoàn toàn thì chi phí cho đá hóa giải cũng vài triệu đồng. 
Đối với việc đuổi vong, theo ông Khoa thì tùy từng loại mới có thể thực hiện được. Chẳng hạn với vong ngẫu nhiên thì mời đi và đeo vòng đá năng lượng để cơ thể có năng lượng mạnh (năng lượng dương) thì ma, tà khí (năng lượng âm) sẽ không đeo bám được nữa. Tuy nhiên, nếu là vong trả nghiệp thì bản thân người trả nghiệp phải lên chùa thực hiện khất cho kiếp sau, nếu không thì cứ đuổi đi rồi lại quay về. Vong bị phạt thì rất khó gỡ. 
Ông Khoa cho biết, việc đo chỉ số Bovis cũng có lúc đúng, lúc sai phụ thuộc vào sức khoẻ và sự vô thức của người thực hiện khi đo. Trong khi đo, tinh thần phải thoải mái, nếu có bức xúc trong lòng không vô thức được thì đo không chính xác hoặc đang đo có điện thoại mất vô thức thì cũng không đo được nữa. Việc đo chỉ đảm bảo khi cơ thể hoàn toàn vô thức, cùng một thời điểm đo, chỉ số đo đi đo lại nhiều lần giống nhau. 

"Dùng con lắc, đũa L để đo năng lượng được nhiều nhà ngoại cảm, đặc biệt là các học viên môn cảm xạ sử dụng. Nó không có tác dụng chữa bệnh, cải tạo vùng đất xấu mà chỉ có tác dụng hỏi một hệ nhụy phân được hay không được giống như người ta gieo đồng xu sấp ngửa khi cúng bái... Thực tế con lắc là sự khuếch đại chuyển động của tay mình chứ con lắc không có giá trị gì. Bàn tay con người nếu tinh vi cũng là con lắc, nếu để nguyên vẫn có thể xoay nhưng nhỏ mà ta không biết, nên phải dùng con lắc để khuếch đại. Muốn sử dụng con lắc chính xác đòi hỏi tập luyện phải siêu hoặc những người có khả năng thực sự. Nếu người sử dụng con lắc mà vô tư không sao, nhưng nếu không vô tư thì bản thân người sử dụng con lắc tự ngoáy và khi đó độ chính xác bằng 0". 
TS Vũ Thế Khanh (Tổng Giám đốc Liên hiệp UIA)
Báo điện tử Kiến thức

Sinh Mệnh Ánh Sáng Vấn đáp: Thiền và Orgonite



Hỏi: Hi Chào anh. Em là người học đạo để tiến hóa về tâm linh. Em chưa khai mở được luân xa, nhưng thật tâm Em rất muốn khởi động nó. Liệu sử dụng Phương pháp Orgonite có thể bổ trợ cho vấn đề này được ko ạ. 
Đáp: Hỗ trợ được một phần. Orgonite không phải là tất cả, nó chỉ là phương tiện hỗ trợ.

Hỏi: Vậy Em nên sử dụng theo phương pháp nào để có hiệu quả tốt nhất ?
Vấn đề của Em là thế này: Vì Em thiền không an định được, nên em quyết đi theo 1 lối khác. Là khai mở luân xa để thu năng lượng, từ đó bước vào cửa thiền. Vậy nên e đi theo hướng khai mở luân xa Anh ạ. Theo Anh thì trường hợp của e nên thế nào ạ
Đáp: Anh cũng đã thiền. Anh nhận thấy 1 điều là các thiền sinh thiếu đi cơ sở sinh học vững vàng để thiền có hiệu quả. Họ thiếu đi nền tảng sinh học, thiếu đi năng lượng bảo hộ khi thiền. Cho nên hành Thiền không có hiệu quả và Tâm không định được.
Ngày xưa Bồ đề đạt ma cũng nhận thấy điều đó, cho nên Ngài cho các nhà sư Thiếu Lâm luyện võ để nâng cao nền tảng sinh học. Còn bây giờ, con người lười biếng hơn xưa nhiều cho nên cần có 1 công cụ gì đó để bảo hộ và cung cấp năng lượng sinh học cho các thiền sinh. Chính vì thế, cũng chính vì sự tu hành của anh, mà anh tìm hiểu ra Orgonite.
Orgonite sẽ bảo hộ người tu Thiền. Orgonite cung cấp cơ sở sinh học tốt cho người tu thiền, để người tu thiền đạt dc các cấp độ của Định và Đại Định. Tuy nhiên nếu chỉ để Orgonite xung quanh mà không thực hành thiền thì sẽ chẳng có khai ngộ gì hết. Chỉ khỏe mạnh hơn thôi.

Hỏi: Cám ơn anh đã giải đáp cho em. Ngày trước Em cứ thắc mắc, tại sao bên Thiếu Lâm cứ tập võ hoài, ko tu tập nhiều, hóa ra lại là như vậy .

SB

Chân Tướng Thực Sự của Nền Kinh tế Chia Sẻ đến từ Uber hay Airbnb

Câu trả lời rất đơn giản và rõ ràng: Chẳng có ai tự dưng chia sẻ điều gì cả. Tất cả mọi người đều muốn kiếm tiền.

Chân tướng thực sự của nền kinh tế chia sẻ đến từ Uber hay Airbnb
Uber đã làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới.
Nền kinh tế chia sẻ đang là một trong những khái niệm khá phổ biến ở thời điểm hiện tại. Nó dùng để chỉ những dịch vụ như Uber (ứng dụng chia sẻ chuyến đi) hay Airbnb (dịch vụ tìm chỗ ở trực tuyến toàn cầu) cùng hàng loạt cái tên ăn theo khác ở phạm vi địa phương. Trong đó, Uber đã trở thành biểu tượng cho sự thành công của loại hình kinh tế này khi dần dẫn đầu thị trường với những con số đáng kinh ngạc về tầm ảnh hưởng.
Dẫu vậy, không phải ai cũng tỏ ra đồng tình với nền kinh tế chia sẻ. Cựu phóng viên kỳ cựu Steven Greenhouse của thời báo New York Times khẳng định, đây đơn thuần chỉ là làm công ăn lương và thực chất chẳng hề có sự chia sẻ nào hết.
Ngoài ra, chuyên gia kinh tế Fred Wilson cũng dự đoán, khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” sẽ sớm lép vế trước “nền kinh tế cho thuê”. Bởi về bản chất, không có ai đang chia sẻ điều gì cả. Tất cả mọi người đều đang kiếm tiền mà thôi.
Vậy khía cạnh nào của nền kinh tế chia sẻ này lại không thực sự mang ý nghĩa sẻ chia? Đơn giản, đó là tiền. Ở chung phòng với người bạn mới quen có nghĩa là chia sẻ. Nhưng nếu tỉnh dậy vào sáng hôm sau, bạn đưa cho cô nàng một tờ hóa đơn tính tiền phòng cùng đồ ăn sáng thì xin chào, bạn vừa biến thành một bà chủ khách sạn. Sẵn sàng cho ai đó đi nhờ xe chính xác là một sự sẻ chia đáng quý. Nhưng nhận tiền từ họ lại khiến bạn trông như một gã tài xế taxi. Cho ai đó mượn tiền khi họ đang túng thiếu quả là một cử chỉ hào phóng. Nhưng lấy lãi dù chỉ 1%/ngày cũng khiến bạn trở thành một kẻ cho vay cắt cổ.
Có thể khẳng định, không một trường hợp nào liệt kê ở trên được coi là chia sẻ đúng nghĩa. Chúng nên được xếp vào hạng mục mua bán, nơi những món hàng được trả bằng tiền. Đương nhiên, buôn bán chẳng có gì sai trái, bởi có kẻ mua thì mới có người bán. Tuy nhiên, việc đánh đồng mua bán với chia sẻ đơn thuần khiến khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” trở nên ngày một kệch cỡm. Cụm từ này từ trước tới nay vẫn được lặp đi lặp lại trong các thông điệp quảng bá bùi tai. Thực chất, các công ty như Uber hay Airbnb chỉ đơn giản dùng nó như một công cụ PR và làm tấm bình phong che chắn giữa trận chiến với các nhà chức trách.

Tương tự, Airbnb cũng đang phải đối mặt với nhiều rắc rối.
Tương tự, Airbnb cũng đang phải đối mặt với nhiều rắc rối.
Thực chất, nền kinh tế chia sẻ là một sản phẩm không mới của Internet hay còn gọi là cộng đồng trực tuyến. Những người ủng hộ nền kinh tế này luôn nhất mực khẳng định, đề cao quyền sử dụng đang trở thành trào lưu ăn đứt quyền sở hữu. Theo đó, Airbnb đã gặt hái được thành công vang dội nhờ phương châm: Đừng nghĩ đến việc làm giàu nếu bạn không biết cách kiếm tiền từ chính những thứ bạn đang sở hữu. Hãy vắt kiệt giá trị sử dụng của chúng.
Bạn cứ nghĩ rằng làm giàu thật khó nhưng hãy thử nhìn xung quanh, bạn có nhà cửa, có tài sản. Vậy tại sao không bắt đầu từ chúng?
Tương tự, Uber cũng thành công rực rỡ khi thay chuỗi cung ứng già cỗi giải quyết rất “ngọt” vấn đề nan giải của ngành công nghiệp vận tải hàng chục năm nay với phương châm: Không bao giờ để phương tiện trống trên đường về.
Những phát kiến sáng giá đó có thể hết sức giá trị với nhiều đối tượng người dùng của riêng chúng. Dù vậy, những hình thức kinh doanh không bền vững không có khả năng khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Chúng chỉ đang đơn thuần tìm cách thích ứng và bật lên so với các cách thức kinh doanh truyền thống.
Có thể thấy rằng, cho dù có đột phá và thông minh đến mấy, không một mô hình kinh doanh nào của nền kinh tế chia sẻ có khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế nan giải mà hiện tại nhân loại đang đối mặt. Trên hết, nền kinh tế gây tranh cãi này cũng nên sớm đi vào quá khứ bởi áp lực kinh tế nó đã và đang tạo ra, trong khi thế giới chỉ vừa mới hồi phục sau cơn “bạo bệnh” suy thoái kinh tế cách đây chưa lâu.

Uber đã làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới.
Uber đã làm dấy lên làn sóng biểu tình phản đối ở khắp nơi trên thế giới.
Tuy nhiên, yếu tố chia sẻ chỉ là một phạm vi rất nhỏ nằm bên lề guồng quay khổng lồ của nền kinh tế toàn cầu. Cũng phải thừa nhận rằng, dù ít dù nhiều, ngành công nghiệp taxi chắc chắn đang bị ảnh hưởng về năng suất do phạm vi hoạt động của Uber đang ngày một mở rộng. Và Airbnb cũng có sức ảnh hưởng không nhỏ lên các hệ thống khách sạn trên toàn thế giới.
Chính vì vậy, hoàn toàn có thể kết luận, cả Uber lẫn Airbnb đều hoàn toàn có thể thay thế các dịch vụ truyền thống, nhưng không ai dám chắc về khả năng đóng góp cho nền kinh tế toàn cầu của xu hướng này.
Chính vì vậy, thời kỳ hoàng kim của nền kinh tế chia sẻ có lẽ đang dần đi đến hồi kết. Tại Mỹ và nhiều nước châu Âu, nền kinh tế chia sẻ đang là thứ đẩy người lao động vào cảnh thắt lưng buộc bụng để đổi lấy tồn đọng tiền lương và mức sống giảm sút. Tại sao có thể nói vậy? Đó là bởi sự bùng nổ các loại hình dịch vụ chia sẻ đã dẫn đến năng suất lao động thấp ở nhiều nền kinh tế phương Tây, nguyên nhân chính của tình trạng tồn đọng lương tại các doanh nghiệp.
Tóm lại, một khi vấn đề năng suất thấp và khả năng đóng góp cho nền kinh tế vẫn chưa được xử lý thấu đáo, sự chia sẻ đúng nghĩa duy nhất đang diễn ra chỉ có thể là sự bất an mà thôi.

    LUẬT PHỤNG SỰ


    Luật  Phụng Sự

    Phụng sự  là một đặc tính của linh hồn hay chân nhân, nó quản trị mọi sinh hoạt của linh hồn. Dầu vậy tùy mức phát triển mà có nhiều cách hiểu luật này, phần dưới đây ta cố gắng tìm hiểu luật theo quan điểm của chân nhân, và do vậy sẽ khác phần nào với quan điểm thông thường.
    ● Thứ nhất, những tiếp xúc có được khi việc tham thiền và sự thành công của ta được xác định bằng việc  phụng sự tiếp theo đó, bởi nếu có hiểu biết đúng đắn thì đương nhiên sẽ dẫn tới hành động đúng đắn.
    ● Thứ hai, luật này là điều không sao tránh được, và việc cố tình tránh né mang lại sự trừng phạt. Khả năng phụng sự đánh dấu một mức tiến bộ rõ rệt trên đường Đạo, và khi chưa đạt tới mức ấy, việc phụng sự tự nhiên làm do lòng yêu thương và được minh triết hướng dẫn, chưa thể có được, mà điều hay thấy từ trước tới lúc ấy là thiện ý, động cơ lẫn lộn và thường khi có lòng cuồng tín.
    Luật này là sự áp đặt các năng lực và động lực phát ra từ chòm sao Bảo Bình (Aquarius) mà ta đang tiến vào lên nhịp của trái đất, và do vậy sẽ phải xẩy ra. Việc khối đông dân chúng tại vài nước bị cưỡng bức sống vào khuôn khổ chung là ảnh hưởng của luật, khiến cho cá nhân phục vụ tập thể qua việc bị ép phải làm ngơ cái tôi của mình. Tư tưởng riêng, sự an lạc cá nhân và luôn cả bản thể của họ trở thành thứ yếu so với  tập thể.
    Đây là một trong những cách biểu lộ thấp nhất của luật trong tâm thức con người, và theo cái nhìn của sự phát triển linh hồn thì con người trở nên tương đối  vô dụng. Bởi họ bị ép buộc phải phục tòng theo điều kiện của khối đông dù muốn hay không muốn. Với cách biểu lộ cao nhất, ta có việc phụng sự của các Chân sư cho mọi loài trong thiên nhiên trên địa cầu. Có sự phân biệt lớn lao giữa hai thái cực này, nhưng cả hai đều diễn ra do việc đáp ứng với luật phụng sự, một đằng là thực hiện nó hữu ý, và đằng khác là bị chỉ định vô thức.
    ● Thứ ba, luật được đức Chúa (đức Di Lặc) thể hiện trọn vẹn hai ngàn năm về trước. Ngài là người tiền phong cho kỷ nguyên Bảo Bình và ta thấy điều này qua việc ngài luôn nhấn mạnh tới sự kiện ngài là ‘nước của sự sống’, là ‘nước sống động’ mà nhân loại cần. Thời Song Ngư (Pisces) đang tàn đã chuẩn bị hết sức chậm chạp mở đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của việc phụng sự, điểu vinh quang sẽ đến trong những thể kỷ tới. Dấu hiệu của việc ấy là ngày nay, người trên thế giới đang dần ý thức, và nói tới ý niệm rằng ‘không ai sống một mình’.
    Hình ảnh của kỷ nguyên Bảo Bình hay được vẽ là người vác trên vai bình nước đầy tới nỗi nước trào ra lênh láng mà không hề cạn. Biểu tượng của luật phụng sự rất giống vậy, chỉ có khác biệt là con người đứng thẳng, hoàn toàn thăng bằng theo hình thánh giá, với cánh tay giang rộng và bình nước đội đầu. Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa đáng nói.
    Bình nước đặt trên vai là dấu hiệu gánh nặng của chuyện phụng sự, phụng sự là việc không dễ. Con người ngày nay chỉ mới bắt đầu học cách phụng sự. Còn hình ảnh bình nước trên đầu người đã ở trên thánh giá hy sinh quá lâu đến mức tư thế ấy trở thành hết sức tự nhiên đối với họ, cho biết thánh giá ấy từng nâng đỡ họ biết bao lâu, nay đã biến mất. Con người với bình nước trên đầu muốn nói là họ đã đạt tới sự quân bình, vững chãi và thăng bằng.
    Phụng sự thường được diễn giải như là việc hết sức đáng ước ao, mà người ta ít khi nhận thức là thực ra ấy là chuyện rất khó. Nó đòi hỏi có nhiều hy sinh về thời giờ, sự quan tâm và tư tưởng riêng của một người, vì nó cần nỗ lực có chủ ý, chủ tâm sáng suốt và khả năng làm việc mà không bị ràng buộc. Tất cả là các đặc tính mà người chí nguyện trung bình khó có được, thế nhưng ngày nay đa số người trên thế giới có khuynh hướng muốn phụng sự. Được như vậy là sự thành công của cuộc tiến hóa.
    Phụng sự thường được xem như là nỗ lực làm người chung quanh chấp nhận quan điểm của người phụng sự, vì điều gì người sau thấy đúng, chân thật và hữu ích thì nhất thiết phải đúng, chân thật và hữu ích cho mọi ai khác. Phụng sự được quan niệm là điều gì đó ta làm cho của nghèo, người khuyết tật, ai đau ốm và ai đau khổ, và ta nghĩ ta muốn giúp họ mà ít nhận ra là sự giúp đỡ này được đưa ra trước hết là vì tình trạng khó khăn của họ làm ta không cảm thấy thoải mái, và như thế phải nỗ lực cải thiện tình trạng hầu làm ta thoải mái trở lại. Hành động vì vậy giúp ta tránh được sự chán chường, ngay cả khi ta không làm nhẹ bớt hay giải trừ cho ai bị đau khổ.
    Phụng sự thường được xem là dấu hiệu của ai bận rộn và linh hoạt quá mức, hay ai có tánh tự mãn, dẫn tới việc người như thế có nỗ lực to lớn để thay đổi tình thế, làm chúng trở thành điều mà họ nghĩ chúng phải vậy, tức ép buộc người khác qui thuận theo điều mà người phụng sự  nghĩ là phải có. Hoặc việc phụng sự  có thể sinh ra do ước vọng cuồng tín, muốn đi theo chân đức Chúa, noi gương ngài làm lành. Con người do đó phụng sự vì vâng lời mà không phải tự nhiên muốn hướng tới ai cần trợ giúp.
    Theo cách ấy, hành động không có tính chất thiết yếu của việc phụng sự, và ngay từ đầu ta không làm gì hơn là chỉ có vài cử chỉ. Tương tự vậy thì phụng sự cũng có thể sinh ra do ước vọng sâu kín muốn đạt sự toàn thiện tâm linh. Ý hay thấy là phụng sự được xem như là một trong các đặc tính cần thiết của người đệ tử, vậy thì nếu ai là đệ tử thì bắt buộc họ phải phụng sự. Lý thuyết này đúng nhưng không có bản chất sống động của việc phụng sự. Nó chân thực và đáng khen, nhưng động cơ nằm đằng sau thì lại hoàn toàn sai lầm.

    Các Nguy Hiểm
    Có ba điểm nguy hiểm chính trong khi phụng sự, tâm tính một ai, tình cảm, thể chất, trí tuệ của họ đều có  ảnh hưởng lên khung cảnh chung quanh và những người quanh họ, cũng như là giáo dục gia đình, và lời nói của họ.
    ● Nguy hiểm đầu tiên là sức khỏe mỗi người. Lẽ tự nhiên ta cần có sức khỏe để làm việc giỏi dang, khi thiếu sức khỏe thì chẳng những ta phải lệ thuộc nhiều hơn vào thân xác, mà đồng thời không thể phụng sự như ý. Ai cũng biết các chăm sóc tối thiểu cho sức khỏe như ăn đúng cách tùy theo nhu cầu mỗi người, ngủ đủ nên không cần bàn nhiều ở đây. Mặc khác khi tu tập con người sẽ thu hút vào nhiều năng lực mà anh chưa quen, dễ gây căng thẳng và lo lắng, nên rất cần sức khỏe để sử dụng chúng, giữ não cân được an nhiên.
    ● Nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo ảnh cõi trung giới mà tất cả nhân loại đang sống trong đó, ngay cả ai nhiều kinh nghiệm cũng bị ảo ảnh chi phối. Bởi đây là hiện tượng  cõi trung giới và tác động chính lên thể tình cảm, theo nguyên tắc muốn giải quyết việc thấp thì phải dùng năng lực cao hơn, chỉ có làm chủ trí não và có cảm nhận tinh thần chân thực mới đủ để xuyên thấu màn ảo ảnh, và cho thấy rằng ta là thực thể tinh thần sinh hoạt trong thân xác, và là một với Đại Hồn.
    Với ai cứ để mình chìm đắm trong ảo ảnh thì hệ quả thật rõ ràng. Viễn kiến của họ trở thành mờ mịt và mất ý niệm với thực tại, không thấy con đường thẳng đưa anh tới mục tiêu.
    ● Nguy hiểm thứ ba là điều hay gặp trong thời đại này, ấy là niềm kiêu hãnh  tinh thần, với hệ quả là ai như vậy không thể làm việc trong nhóm. Người ta có thể có thành công tạm thời nhưng rồi phải làm việc với nhóm bị thiếu sinh lực do việc những thành viên giỏi nhất đã bỏ đi, và chỉ còn lại những người nuôi dưỡng cái tôi của ai lãnh đạo nhóm. Do việc nhấn mạnh vào ý tưởng và phương pháp làm việc riêng  của mình, kẻ đứng đầu nhóm có thể thấy nhóm anh thiếu các yếu tố và thành viên làm nhóm  đa dạng,  đầy đủ, những ai làm quân bình nỗ lực của anh, đóng góp vào nhóm các tính chất, tài năng mà tự anh thiếu.
    Tình trạng này tự nó đủ là sự trừng phạt cho anh, và mau lẹ làm ai phụng sự thật lòng tỉnh ngộ. Ai thông minh, thành thật và chân tình có thể bị sai làm như thế và theo với thời gian sẽ bừng tỉnh với sự kiện là nhóm mà anh tụ tập quanh mình nhào nặn anh cũng như anh nhào nặn họ, các nhóm viên thường khi  là thể hiện của anh và  lập lại anh. Như đã có ghi trước đây, khi một ai quyết chí đi trên đường Đạo, luật sẽ tác động nhanh hơn cho anh so với ai khác, vậy hệ quả sẽ mau lẹ tới và anh cũng phải lẹ làng điểu chỉnh lại tình trạng.
    Một điều có thể làm phấn khởi ai phụng sự là câu nói rằng không có một nhiệt tâm mà không được nhận biết. Anh được theo dõi và mỗi hành vi thân ái, mỗi tư tưởng khát khao và mỗi phản ứng không ích kỷ đều được ghi nhận và biết đến. Dầu vậy, ta cũng nên ghi thêm sự cảm nhận này có được qua làn rung động gia tăng nơi người chí nguyện, mà không phải do biết chuyện họ làm, hay tư tưởng gửi đi. Các vị thầy chú trọng vào những nguyên tắc của chân lý, vào mức rung động và phẩm chất của ánh sáng (tức hào quang) phát ra nơi người phụng sự. Ngài không ý thức, hay có thì giờ để xem xét hành vi, lời nói, và tình trạng đặc biệt nào; và chúng ta nắm vững điều này sớm chừng nào, cùng gạt bỏ khỏi tâm trí bất cứ hy vọng nào được tiếp xúc vị gọi là Chân sư, để ngài bỏ giờ quan tâm đến chuyện không đáng của mình, thì ta càng tiến mau chừng ấy.
    Kế đó, khi có sự tăng trường đều đặn, có việc áp dụng các nguyên lý huyền bí sinh ra thay đổi rõ rệt trong các thể, và ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ hơn (là hào quang), những điều này được biết và ghi nhận và người phụng sự được thưởng, bằng cách có cơ hội nhiều hơn để làm việc giúp đỡ đồng loại mình. Các ngài không thưởng bằng lời khen, bằng cái xoa đầu, hay lời khen ngợi.  Các ngài làm con người trở thành kẻ hiểu biết và bậc thầy bằng những cách sau:
    1. Dạy con người biết chính mình.
    2. Làm cho họ được tự do thoát khỏi thẩm quyền  bằng cách gợi nên sự ưa thích và thắc mắc trong tâm trí họ, và chỉ hướng (mà không làm hơn thế) có thể tìm ra câu trả lời.
    3. Cho điều kiện để bắt buộc họ phải tự đứng vững và nương tựa vào chính linh hồn mình mà không phải vào bất cứ ai khác, dù là bạn, là thầy, hay vị Chân sư Minh triết.
    Người chí nguyện cần làm các điều sau:
    ● Đặt ý tưởng và ao ước riêng của mình sau lợi ích của nhóm
    ● Đừng chú tâm vào mình mà hướng tầm mắt về viễn ảnh,
    ● Canh giữ miệng lưỡi để không nói lời tầm phào và chỉ trích, ngồi lê đôi mách và nói bóng gió,
    ● Đọc và học hỏi để việc làm tiến hành một cách thông minh.
    Họ có thể góp sức vào công việc khó nhọc của những Đấng Cao Cả, các ngài làm việc ngày đêm mong giảm bớt khổ nàn cho nhân loại, và đảo ngược những điều ác cùng tai ương  đang đe dọa con người. Đây là cơ hội cho tất cả, và mỗi người đều được cần đến dù khả năng ít oi ra sao. Khi các nhóm phụng sự làm việc hòa hợp trong tình hữu ái sâu xa với nhau không suy giảm, họ có thể đạt được thành quả đáng  kể.

    Các Nỗi Sợ Hãi.
    Khi làm việc, những người chí nguyện có hai nỗi sợ hãi mà họ đặc biệt quan tâm, là sợ dư luận và sợ không thành công, ta sẽ lần lượt xem xét chúng và cách giải trừ.
    1. Ai mới bắt đầu làm việc với thiên cơ và học ý nghĩa của phụng sự, thường hay sợ là  chuyện họ làm  sẽ bị chỉ trích và phán đoán sai, hoặc nghĩ điều ngược lại là việc làm ấy sẽ không được ưa thích, quí chuộng và hiểu đúng mức. Họ đòi hỏi có sự ưa thích và ngợi khen, đo lường mức thành công bằng con số và bằng đáp ứng. Họ không thích động cơ của mình bị mổ xẻ và phê phán, và hấp tấp lên tiếng biện minh; họ không vui nếu phương pháp, thành viên trong nhóm của họ bị phê bình.
    Mục tiêu sai lạc là con số, thế lực hay triết lý theo kinh điển kềm chế họ. Họ không vui trừ phi điều họ làm đạt tới tiêu chuản hay thuận theo các nhóm khác chung quanh, khiến những người này  thích thú. Vì lẽ đó họ thường thay đổi kế hoạch, quan điểm của mình, hạ thấp tiêu chuẩn cho đến khi nó phù hợp với tâm lý chung (tức đi tìm mẫu số chung và thường là mức thấp nhất).
    Đối nghịch lại, người phụng sự chân thực có viễn kiến, rồi tìm cách hòa hợp với linh hồn mình  để an trụ vững vàng trong thực hiện viễn kiến ấy. Anh nhắm đến việc hoàn thành điều mà quan điểm của thế giới cho là bất khả, biết rằng viễn kiến không thành hình khi làm theo đề nghị nhắm tới lợi lộc cõi trần hay nặng về trí tuệ. Khi thấy là lời khuyên  có tính  chia rẽ và có khuynh hướng không hòa thuận, thiếu tình huynh đệ và thông cảm, họ sẽ lập tức bác bỏ nó. Khi thấy là có thái độ chỉ trích thường xuyên người khác trong  việc phụng sự chung, và khi thấy chỉ có lòng ích kỷ, tâm tánh bắt lỗi, tin vào điều xấu, gán cho hậu ý không lành, người chí nguyện chân thực không để cho mình bị ảnh hưởng và thản  nhiên đi theo đường của anh.
    Việc phụng sự chân thực chỉ được thực hiện bởi những ai không có thái độ chia rẽ, và giữ gìn để không thốt lời ác; đó là những người nhận ra tính thiêng liêng trong mọi sinh linh, không nghĩ bậy và lặng thinh làm việc. Họ không xen vào chuyện riêng người khác, không tiết lộ điều gì không phải là chuyện của họ. Đời sống họ có đặc tính là thương yêu và thông cảm; họ có ý thức tinh thần, với trí tuệ sắc bén đi kèm tâm thương yêu.
    Đây là những người mở đầu Tân Kỷ Nguyên, họ đã học được bí mật của sự lặng thinh, được gợi hứng không ngừng  do tình thương bao trùm không phân biệt, miệng lưỡi không thốt lời chỉ trích tầm thường, và không lên án kẻ khác mà luôn có tinh thần bảo bọc.
    Người chưa đạt tới mức tiến hóa này và viễn kiến chưa rõ ràng, cá tính chưa vào khuôn phép vẫn làm được chuyện quan trọng ở mức thấp hơn, và làm việc với ai cùng trình độ. Đặc tính của họ khiến họ đến với ai giống mình, và không làm việc lẻ loi, có thành công bề ngoài nhiều hơn tuy không phải luôn luôn được vậy.
    Ta phân tích đặc tính của hai nhóm tuy nhiên điều cần nhớ là dưới mắt các Đấng Cao Cả mọi nỗ lực đều quan trọng như nhau. Ai đang ở mức mà gia đình hay công việc văn phòng cho đầy đủ kinh nghiệm thì đó là nỗ lực tột cùng của họ; gắng công của họ ở mức ấy thì cũng lớn lao như thành quả của một đấng Cứu thế hay một Napoléone. Lời khuyên là đừng quên điều ấy, và cố công nhìn sự sống đúng thực thay vì theo sự cao thấp do con người đặt ra và nguy hiểm. Người chí nguyện mà chưa có viễn kiến trọn vẹn như  của ai nhiều kinh nghiệm hơn, và ai chỉ mới học ABC của việc phụng sự thì dù có thất bại và khờ khạo thế mấy, họ cũng đóng góp hữu ích như ai khôn ngoan có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm.
    2. Nỗi sợ hãi thứ hai là sợ thất bại, đây là thử thách lớn cho ai nhậy cảm. Nó sinh ra do kinh nghiệm quá khứ (vì ai cũng đã từng thất bại), do ý thức về nhu cầu và cơ hội, và do nhận biết rõ ràng về giới hạn và yếu kém của mình. Những điều này hợp lý tuy nhiên ấy là việc phí thì giờ đáng kể cho người phụng sự lo nghĩ về sự thất bại hay gục ngã. Bởi không có gì là thất bại mà chỉ có thể có việc mất thời gian. Điều sau nghiêm trọng khi ta có nhu cầu cấp bách, nhưng chắc chắn có  ngày ta sẽ thành công và cứu vớt lại thất bại khi xưa.
    Cũng như ta không nên lo ngại về thất bại - có thực hay không - của bạn trong nhóm. Cảm nhận về thời gian sinh ra ảo ảnh và thất vọng, còn công việc thì vẫn tiến hành. Hãy tự hỏi vài năm chậm trễ thì là bao so với thời đại hằng ngàn năm ? hay vài phút thì là bao lăm trong đời người bẩy, tám chục tuổi ? Với ai trong cuộc chuyện dường như hết sức quan trọng, còn với linh hồn nhìn ngắm thì dường như  nó không là gì cả.
    Vậy có lời khuyên nghịch lý là hãy nhiệt tâm làm việc, mà cùng lúc đừng làm việc với nhiệt tâm như thế, và đừng quá coi trọng mình ! Để hóa giải điều sau, bạn đừng mất thì giờ tự phân tích không ngừng. Mặt khác nhiều người không có óc hài hước nên đây là tính đáng được nuôi dưỡng.
    Để kết thúc thì mục tiêu tức thì cho mọi của chí nguyện có thể ghi như sau:
    ● Có tư tưởng minh bạch về mục tiêu phụng sự của mình, thực hiện bằng cách tham thiền.
    ● Phát triển sự nhậy cảm với các động lực mới đang tuôn tràn vào thế giới hiện nay, ta làm điều này bằng cách thương yêu, thông cảm mọi người nhiều hơn. Tình thương làm lộ ra điều chi bí ẩn.
    ● Phụng sự với lòng hoàn toàn xả kỷ, có được do loại trừ  tham vọng cá nhân và lòng ưa thích quyền lực.
    4. Không để ý tới dư luận hay sự thất bại, bằng cách chú ý chặt chẽ vào tiếng nói của linh hồn, và gắng công luôn an trú nơi cao nhất.Luật  Phụng Sự

    Phụng sự  là một đặc tính của linh hồn hay chân nhân, nó quản trị mọi sinh hoạt của linh hồn. Dầu vậy tùy mức phát triển mà có nhiều cách hiểu luật này, phần dưới đây ta cố gắng tìm hiểu luật theo quan điểm của chân nhân, và do vậy sẽ khác phần nào với quan điểm thông thường.
    ● Thứ nhất, những tiếp xúc có được khi việc tham thiền và sự thành công của ta được xác định bằng việc  phụng sự tiếp theo đó, bởi nếu có hiểu biết đúng đắn thì đương nhiên sẽ dẫn tới hành động đúng đắn.
    ● Thứ hai, luật này là điều không sao tránh được, và việc cố tình tránh né mang lại sự trừng phạt. Khả năng phụng sự đánh dấu một mức tiến bộ rõ rệt trên đường Đạo, và khi chưa đạt tới mức ấy, việc phụng sự tự nhiên làm do lòng yêu thương và được minh triết hướng dẫn, chưa thể có được, mà điều hay thấy từ trước tới lúc ấy là thiện ý, động cơ lẫn lộn và thường khi có lòng cuồng tín.
    Luật này là sự áp đặt các năng lực và động lực phát ra từ chòm sao Bảo Bình (Aquarius) mà ta đang tiến vào lên nhịp của trái đất, và do vậy sẽ phải xẩy ra. Việc khối đông dân chúng tại vài nước bị cưỡng bức sống vào khuôn khổ chung là ảnh hưởng của luật, khiến cho cá nhân phục vụ tập thể qua việc bị ép phải làm ngơ cái tôi của mình. Tư tưởng riêng, sự an lạc cá nhân và luôn cả bản thể của họ trở thành thứ yếu so với  tập thể.
    Đây là một trong những cách biểu lộ thấp nhất của luật trong tâm thức con người, và theo cái nhìn của sự phát triển linh hồn thì con người trở nên tương đối  vô dụng. Bởi họ bị ép buộc phải phục tòng theo điều kiện của khối đông dù muốn hay không muốn. Với cách biểu lộ cao nhất, ta có việc phụng sự của các Chân sư cho mọi loài trong thiên nhiên trên địa cầu. Có sự phân biệt lớn lao giữa hai thái cực này, nhưng cả hai đều diễn ra do việc đáp ứng với luật phụng sự, một đằng là thực hiện nó hữu ý, và đằng khác là bị chỉ định vô thức.
    ● Thứ ba, luật được đức Chúa (đức Di Lặc) thể hiện trọn vẹn hai ngàn năm về trước. Ngài là người tiền phong cho kỷ nguyên Bảo Bình và ta thấy điều này qua việc ngài luôn nhấn mạnh tới sự kiện ngài là ‘nước của sự sống’, là ‘nước sống động’ mà nhân loại cần. Thời Song Ngư (Pisces) đang tàn đã chuẩn bị hết sức chậm chạp mở đường cho sự biểu lộ thiêng liêng của việc phụng sự, điểu vinh quang sẽ đến trong những thể kỷ tới. Dấu hiệu của việc ấy là ngày nay, người trên thế giới đang dần ý thức, và nói tới ý niệm rằng ‘không ai sống một mình’.
    Hình ảnh của kỷ nguyên Bảo Bình hay được vẽ là người vác trên vai bình nước đầy tới nỗi nước trào ra lênh láng mà không hề cạn. Biểu tượng của luật phụng sự rất giống vậy, chỉ có khác biệt là con người đứng thẳng, hoàn toàn thăng bằng theo hình thánh giá, với cánh tay giang rộng và bình nước đội đầu. Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa đáng nói.
    Bình nước đặt trên vai là dấu hiệu gánh nặng của chuyện phụng sự, phụng sự là việc không dễ. Con người ngày nay chỉ mới bắt đầu học cách phụng sự. Còn hình ảnh bình nước trên đầu người đã ở trên thánh giá hy sinh quá lâu đến mức tư thế ấy trở thành hết sức tự nhiên đối với họ, cho biết thánh giá ấy từng nâng đỡ họ biết bao lâu, nay đã biến mất. Con người với bình nước trên đầu muốn nói là họ đã đạt tới sự quân bình, vững chãi và thăng bằng.
    Phụng sự thường được diễn giải như là việc hết sức đáng ước ao, mà người ta ít khi nhận thức là thực ra ấy là chuyện rất khó. Nó đòi hỏi có nhiều hy sinh về thời giờ, sự quan tâm và tư tưởng riêng của một người, vì nó cần nỗ lực có chủ ý, chủ tâm sáng suốt và khả năng làm việc mà không bị ràng buộc. Tất cả là các đặc tính mà người chí nguyện trung bình khó có được, thế nhưng ngày nay đa số người trên thế giới có khuynh hướng muốn phụng sự. Được như vậy là sự thành công của cuộc tiến hóa.
    Phụng sự thường được xem như là nỗ lực làm người chung quanh chấp nhận quan điểm của người phụng sự, vì điều gì người sau thấy đúng, chân thật và hữu ích thì nhất thiết phải đúng, chân thật và hữu ích cho mọi ai khác. Phụng sự được quan niệm là điều gì đó ta làm cho của nghèo, người khuyết tật, ai đau ốm và ai đau khổ, và ta nghĩ ta muốn giúp họ mà ít nhận ra là sự giúp đỡ này được đưa ra trước hết là vì tình trạng khó khăn của họ làm ta không cảm thấy thoải mái, và như thế phải nỗ lực cải thiện tình trạng hầu làm ta thoải mái trở lại. Hành động vì vậy giúp ta tránh được sự chán chường, ngay cả khi ta không làm nhẹ bớt hay giải trừ cho ai bị đau khổ.
    Phụng sự thường được xem là dấu hiệu của ai bận rộn và linh hoạt quá mức, hay ai có tánh tự mãn, dẫn tới việc người như thế có nỗ lực to lớn để thay đổi tình thế, làm chúng trở thành điều mà họ nghĩ chúng phải vậy, tức ép buộc người khác qui thuận theo điều mà người phụng sự  nghĩ là phải có. Hoặc việc phụng sự  có thể sinh ra do ước vọng cuồng tín, muốn đi theo chân đức Chúa, noi gương ngài làm lành. Con người do đó phụng sự vì vâng lời mà không phải tự nhiên muốn hướng tới ai cần trợ giúp.
    Theo cách ấy, hành động không có tính chất thiết yếu của việc phụng sự, và ngay từ đầu ta không làm gì hơn là chỉ có vài cử chỉ. Tương tự vậy thì phụng sự cũng có thể sinh ra do ước vọng sâu kín muốn đạt sự toàn thiện tâm linh. Ý hay thấy là phụng sự được xem như là một trong các đặc tính cần thiết của người đệ tử, vậy thì nếu ai là đệ tử thì bắt buộc họ phải phụng sự. Lý thuyết này đúng nhưng không có bản chất sống động của việc phụng sự. Nó chân thực và đáng khen, nhưng động cơ nằm đằng sau thì lại hoàn toàn sai lầm.

    Các Nguy Hiểm
    Có ba điểm nguy hiểm chính trong khi phụng sự, tâm tính một ai, tình cảm, thể chất, trí tuệ của họ đều có  ảnh hưởng lên khung cảnh chung quanh và những người quanh họ, cũng như là giáo dục gia đình, và lời nói của họ.
    ● Nguy hiểm đầu tiên là sức khỏe mỗi người. Lẽ tự nhiên ta cần có sức khỏe để làm việc giỏi dang, khi thiếu sức khỏe thì chẳng những ta phải lệ thuộc nhiều hơn vào thân xác, mà đồng thời không thể phụng sự như ý. Ai cũng biết các chăm sóc tối thiểu cho sức khỏe như ăn đúng cách tùy theo nhu cầu mỗi người, ngủ đủ nên không cần bàn nhiều ở đây. Mặc khác khi tu tập con người sẽ thu hút vào nhiều năng lực mà anh chưa quen, dễ gây căng thẳng và lo lắng, nên rất cần sức khỏe để sử dụng chúng, giữ não cân được an nhiên.
    ● Nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo ảnh cõi trung giới mà tất cả nhân loại đang sống trong đó, ngay cả ai nhiều kinh nghiệm cũng bị ảo ảnh chi phối. Bởi đây là hiện tượng  cõi trung giới và tác động chính lên thể tình cảm, theo nguyên tắc muốn giải quyết việc thấp thì phải dùng năng lực cao hơn, chỉ có làm chủ trí não và có cảm nhận tinh thần chân thực mới đủ để xuyên thấu màn ảo ảnh, và cho thấy rằng ta là thực thể tinh thần sinh hoạt trong thân xác, và là một với Đại Hồn.
    Với ai cứ để mình chìm đắm trong ảo ảnh thì hệ quả thật rõ ràng. Viễn kiến của họ trở thành mờ mịt và mất ý niệm với thực tại, không thấy con đường thẳng đưa anh tới mục tiêu.
    ● Nguy hiểm thứ ba là điều hay gặp trong thời đại này, ấy là niềm kiêu hãnh  tinh thần, với hệ quả là ai như vậy không thể làm việc trong nhóm. Người ta có thể có thành công tạm thời nhưng rồi phải làm việc với nhóm bị thiếu sinh lực do việc những thành viên giỏi nhất đã bỏ đi, và chỉ còn lại những người nuôi dưỡng cái tôi của ai lãnh đạo nhóm. Do việc nhấn mạnh vào ý tưởng và phương pháp làm việc riêng  của mình, kẻ đứng đầu nhóm có thể thấy nhóm anh thiếu các yếu tố và thành viên làm nhóm  đa dạng,  đầy đủ, những ai làm quân bình nỗ lực của anh, đóng góp vào nhóm các tính chất, tài năng mà tự anh thiếu.
    Tình trạng này tự nó đủ là sự trừng phạt cho anh, và mau lẹ làm ai phụng sự thật lòng tỉnh ngộ. Ai thông minh, thành thật và chân tình có thể bị sai làm như thế và theo với thời gian sẽ bừng tỉnh với sự kiện là nhóm mà anh tụ tập quanh mình nhào nặn anh cũng như anh nhào nặn họ, các nhóm viên thường khi  là thể hiện của anh và  lập lại anh. Như đã có ghi trước đây, khi một ai quyết chí đi trên đường Đạo, luật sẽ tác động nhanh hơn cho anh so với ai khác, vậy hệ quả sẽ mau lẹ tới và anh cũng phải lẹ làng điểu chỉnh lại tình trạng.
    Một điều có thể làm phấn khởi ai phụng sự là câu nói rằng không có một nhiệt tâm mà không được nhận biết. Anh được theo dõi và mỗi hành vi thân ái, mỗi tư tưởng khát khao và mỗi phản ứng không ích kỷ đều được ghi nhận và biết đến. Dầu vậy, ta cũng nên ghi thêm sự cảm nhận này có được qua làn rung động gia tăng nơi người chí nguyện, mà không phải do biết chuyện họ làm, hay tư tưởng gửi đi. Các vị thầy chú trọng vào những nguyên tắc của chân lý, vào mức rung động và phẩm chất của ánh sáng (tức hào quang) phát ra nơi người phụng sự. Ngài không ý thức, hay có thì giờ để xem xét hành vi, lời nói, và tình trạng đặc biệt nào; và chúng ta nắm vững điều này sớm chừng nào, cùng gạt bỏ khỏi tâm trí bất cứ hy vọng nào được tiếp xúc vị gọi là Chân sư, để ngài bỏ giờ quan tâm đến chuyện không đáng của mình, thì ta càng tiến mau chừng ấy.
    Kế đó, khi có sự tăng trường đều đặn, có việc áp dụng các nguyên lý huyền bí sinh ra thay đổi rõ rệt trong các thể, và ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ hơn (là hào quang), những điều này được biết và ghi nhận và người phụng sự được thưởng, bằng cách có cơ hội nhiều hơn để làm việc giúp đỡ đồng loại mình. Các ngài không thưởng bằng lời khen, bằng cái xoa đầu, hay lời khen ngợi.  Các ngài làm con người trở thành kẻ hiểu biết và bậc thầy bằng những cách sau:
    1. Dạy con người biết chính mình.
    2. Làm cho họ được tự do thoát khỏi thẩm quyền  (xin đọc Cách Đọc Sách, PST 67) bằng cách gợi nên sự ưa thích và thắc mắc trong tâm trí họ, và chỉ hướng (mà không làm hơn thế) có thể tìm ra câu trả lời.
    3. Cho điều kiện để bắt buộc họ phải tự đứng vững và nương tựa vào chính linh hồn mình mà không phải vào bất cứ ai khác, dù là bạn, là thầy, hay vị Chân sư Minh triết.
    Người chí nguyện cần làm các điều sau:
    ● Đặt ý tưởng và ao ước riêng của mình sau lợi ích của nhóm
    ● Đừng chú tâm vào mình mà hướng tầm mắt về viễn ảnh,
    ● Canh giữ miệng lưỡi để không nói lời tầm phào và chỉ trích, ngồi lê đôi mách và nói bóng gió,
    ● Đọc và học hỏi để việc làm tiến hành một cách thông minh.
    Họ có thể góp sức vào công việc khó nhọc của những Đấng Cao Cả, các ngài làm việc ngày đêm mong giảm bớt khổ nàn cho nhân loại, và đảo ngược những điều ác cùng tai ương  đang đe dọa con người. Đây là cơ hội cho tất cả, và mỗi người đều được cần đến dù khả năng ít oi ra sao. Khi các nhóm phụng sự làm việc hòa hợp trong tình hữu ái sâu xa với nhau không suy giảm, họ có thể đạt được thành quả đáng  kể.
    Các Nỗi Sợ Hãi.
    Khi làm việc, những người chí nguyện có hai nỗi sợ hãi mà họ đặc biệt quan tâm, là sợ dư luận và sợ không thành công, ta sẽ lần lượt xem xét chúng và cách giải trừ.
    1. Ai mới bắt đầu làm việc với thiên cơ và học ý nghĩa của phụng sự, thường hay sợ là  chuyện họ làm  sẽ bị chỉ trích và phán đoán sai, hoặc nghĩ điều ngược lại là việc làm ấy sẽ không được ưa thích, quí chuộng và hiểu đúng mức. Họ đòi hỏi có sự ưa thích và ngợi khen, đo lường mức thành công bằng con số và bằng đáp ứng. Họ không thích động cơ của mình bị mổ xẻ và phê phán, và hấp tấp lên tiếng biện minh; họ không vui nếu phương pháp, thành viên trong nhóm của họ bị phê bình.
    Mục tiêu sai lạc là con số, thế lực hay triết lý theo kinh điển kềm chế họ. Họ không vui trừ phi điều họ làm đạt tới tiêu chuản hay thuận theo các nhóm khác chung quanh, khiến những người này  thích thú. Vì lẽ đó họ thường thay đổi kế hoạch, quan điểm của mình, hạ thấp tiêu chuẩn cho đến khi nó phù hợp với tâm lý chung (tức đi tìm mẫu số chung và thường là mức thấp nhất).
    Đối nghịch lại, người phụng sự chân thực có viễn kiến, rồi tìm cách hòa hợp với linh hồn mình  để an trụ vững vàng trong thực hiện viễn kiến ấy. Anh nhắm đến việc hoàn thành điều mà quan điểm của thế giới cho là bất khả, biết rằng viễn kiến không thành hình khi làm theo đề nghị nhắm tới lợi lộc cõi trần hay nặng về trí tuệ. Khi thấy là lời khuyên  có tính  chia rẽ và có khuynh hướng không hòa thuận, thiếu tình huynh đệ và thông cảm, họ sẽ lập tức bác bỏ nó. Khi thấy là có thái độ chỉ trích thường xuyên người khác trong  việc phụng sự chung, và khi thấy chỉ có lòng ích kỷ, tâm tánh bắt lỗi, tin vào điều xấu, gán cho hậu ý không lành, người chí nguyện chân thực không để cho mình bị ảnh hưởng và thản  nhiên đi theo đường của anh.
    Việc phụng sự chân thực chỉ được thực hiện bởi những ai không có thái độ chia rẽ, và giữ gìn để không thốt lời ác; đó là những người nhận ra tính thiêng liêng trong mọi sinh linh, không nghĩ bậy và lặng thinh làm việc. Họ không xen vào chuyện riêng người khác, không tiết lộ điều gì không phải là chuyện của họ. Đời sống họ có đặc tính là thương yêu và thông cảm; họ có ý thức tinh thần, với trí tuệ sắc bén đi kèm tâm thương yêu.
    Đây là những người mở đầu Tân Kỷ Nguyên, họ đã học được bí mật của sự lặng thinh, được gợi hứng không ngừng  do tình thương bao trùm không phân biệt, miệng lưỡi không thốt lời chỉ trích tầm thường, và không lên án kẻ khác mà luôn có tinh thần bảo bọc.
    Người chưa đạt tới mức tiến hóa này và viễn kiến chưa rõ ràng, cá tính chưa vào khuôn phép vẫn làm được chuyện quan trọng ở mức thấp hơn, và làm việc với ai cùng trình độ. Đặc tính của họ khiến họ đến với ai giống mình, và không làm việc lẻ loi, có thành công bề ngoài nhiều hơn tuy không phải luôn luôn được vậy.
    Ta phân tích đặc tính của hai nhóm tuy nhiên điều cần nhớ là dưới mắt các Đấng Cao Cả mọi nỗ lực đều quan trọng như nhau. Ai đang ở mức mà gia đình hay công việc văn phòng cho đầy đủ kinh nghiệm thì đó là nỗ lực tột cùng của họ; gắng công của họ ở mức ấy thì cũng lớn lao như thành quả của một đấng Cứu thế hay một Napoléone. Lời khuyên là đừng quên điều ấy, và cố công nhìn sự sống đúng thực thay vì theo sự cao thấp do con người đặt ra và nguy hiểm. Người chí nguyện mà chưa có viễn kiến trọn vẹn như  của ai nhiều kinh nghiệm hơn, và ai chỉ mới học ABC của việc phụng sự thì dù có thất bại và khờ khạo thế mấy, họ cũng đóng góp hữu ích như ai khôn ngoan có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm.
    2. Nỗi sợ hãi thứ hai là sợ thất bại, đây là thử thách lớn cho ai nhậy cảm. Nó sinh ra do kinh nghiệm quá khứ (vì ai cũng đã từng thất bại), do ý thức về nhu cầu và cơ hội, và do nhận biết rõ ràng về giới hạn và yếu kém của mình. Những điều này hợp lý tuy nhiên ấy là việc phí thì giờ đáng kể cho người phụng sự lo nghĩ về sự thất bại hay gục ngã. Bởi không có gì là thất bại mà chỉ có thể có việc mất thời gian. Điều sau nghiêm trọng khi ta có nhu cầu cấp bách, nhưng chắc chắn có  ngày ta sẽ thành công và cứu vớt lại thất bại khi xưa.
    Cũng như ta không nên lo ngại về thất bại - có thực hay không - của bạn trong nhóm. Cảm nhận về thời gian sinh ra ảo ảnh và thất vọng, còn công việc thì vẫn tiến hành. Hãy tự hỏi vài năm chậm trễ thì là bao so với thời đại hằng ngàn năm ? hay vài phút thì là bao lăm trong đời người bẩy, tám chục tuổi ? Với ai trong cuộc chuyện dường như hết sức quan trọng, còn với linh hồn nhìn ngắm thì dường như  nó không là gì cả.
    Vậy có lời khuyên nghịch lý là hãy nhiệt tâm làm việc, mà cùng lúc đừng làm việc với nhiệt tâm như thế, và đừng quá coi trọng mình ! Để hóa giải điều sau, bạn đừng mất thì giờ tự phân tích không ngừng. Mặt khác nhiều người không có óc hài hước nên đây là tính đáng được nuôi dưỡng.
    Để kết thúc thì mục tiêu tức thì cho mọi của chí nguyện có thể ghi như sau:
    ● Có tư tưởng minh bạch về mục tiêu phụng sự của mình, thực hiện bằng cách tham thiền.
    ● Phát triển sự nhậy cảm với các động lực mới đang tuôn tràn vào thế giới hiện nay, ta làm điều này bằng cách thương yêu, thông cảm mọi người nhiều hơn. Tình thương làm lộ ra điều chi bí ẩn.
    ● Phụng sự với lòng hoàn toàn xả kỷ, có được do loại trừ  tham vọng cá nhân và lòng ưa thích quyền lực.
    4. Không để ý tới dư luận hay sự thất bại, bằng cách chú ý chặt chẽ vào tiếng nói của linh hồn, và gắng công luôn an trú nơi cao nhất.
     
    Copyright © 2013-2033 CÔNG NGHỆ ET
    Powered by MẠNG LƯỚI HỢP NHẤT