Các nhà khoa học thử nghiệm mở cổng dẫn vào vũ trụ song song với vũ trụ của chúng ta. Đây sẽ là một trong những phát hiện lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Liệu họ có thành công khi cố gắng tạo ra một chiều khác, tồn tại song song với thế giới của chúng ta?
Bà Leah Broussard, nhà vật lý ở Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge (Mỹ) nghiên cứu về việc mở cổng dẫn vào thế giới song song. Trả lời phỏng vấn đài truyền hình NBC News, bà Broussard cho biết những thí nghiệm đầu tiên với thế giới song song diễn ra vào những năm 90 thế kỷ trước; khi đó, các nhà khoa học thấy rằng những hạt neutron giống nhau phân rã thành proton với tốc độ khác nhau. Điều này phụ thuộc vào việc chúng phân rã tự nhiên hay phân rã trong chùm hạt. Độ chênh lệch về thời gian lên tới 10 giây. Các nhà nghiên cứu cố gắng hiểu nguyên nhân xuất hiện sự chênh lệch này; đồng thời tìm cách lý giải tại sao một số neutron “sống” lâu hơn. Một trong các thuyết giải thích hiện tượng này liên quan đến vũ trụ song song, nơi các neutron biến mất. Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge đã tập trung các thiết bị cần thiết để tiến hành một loạt thí nghiệm. Các thí nghiệm sẽ bắt đầu trong vài tháng tới. Nhóm nghiên cứu của bà Broussard sẽ phóng chùm hạt hạ nguyên tử vào một đường hầm tự tạo đặc biệt, có chiều dài hơn 15 mét. Các hạt hạ nguyên tử được phóng ra từ lò phản ứng Spallation Neutron Source công suất 85 MWh, có khả năng sản sinh hàng tỷ neutron. Đường hầm được gắn nam châm mạnh, khiến các neutron dao động trong chùm tia hướng vào bức vách ngăn không thể xuyên thủng.Về mặt lý thuyết, dao động cho phép biến đổi một số hạt thành hạt phản xạ qua gương, nhờ vậy chúng có thể đi xuyên qua vách ngăn. Nếu như trong thực tế các hạt đi xuyên qua được vách ngăn, thì bà Boussard sẽ chính thức phát hiện chứng cớ về vũ trụ song song, tồn tại bên cạnh vũ trụ của chúng ta Bà Boussard nhấn mạnh, rằng thí nghiệm không quá khó để thực hiện. Vấn đề chủ chốt ở đây là lựa chọn cấu hình thích hợp cho các thiết bị. Nếu thành công, thí nghiệm của bà Boussard có thể mở ra cơ hội giải thích nhiều bí ẩn của Vật lý học.
Blockchain – công nghệ đứng sau hàng loạt các đồng tiền số như Libra, Bitcoin. Blockchain giúp duy trì các đồng tiền điện tử hiện tại song ứng dụng của nó không chỉ dừng lại tại đây.
Facebook mới đây đã chính thức giới thiệu đồng tiền số Libra của mình. Tuyên bố từ ông lớn mạng xã hội này đã khuấy động sự quan tâm đến lĩnh vực tiền số vốn không còn rõ rệt kể từ khi đồng tiền bitcoin đạt giá trị gần 20.000 USD mỗi đồng vào cuối năm 2017.
Trong khi cơn sốt bitcoin đã khiến nhiều người trở thành tỉ phú, Facebook hy vọng Libra sẽ mang đến một phương thức tiếp cận với các dịch vụ tài chính chi phí thấp và đơn giản tới hơn 1,7 tỉ người trên toàn thế giới vẫn chưa có tài khoản ngân hàng.
Mặc dù cách áp dụng trong thực tế có thể khác nhau, đằng sau tất cả đồng tiền mã hoá, bao gồm cả bitcoin và Libra, là một công nghệ mang tên blockchain (chuỗi khối).
Các nhà phân tích tại UBS ước tính rằng blockchain có thể trở thành một ngành công nghiệp có giá trị từ 300 tỉ USD tới 400 tỉ USD vào năm 2027 và rõ ràng thực tế đã cho thấy cho dù cơn sốt bitcoin\kết cục như thế nào đi nữa, công nghệ blockchain vẫn sẽ tiếp tục phát triển.
Đây là những gì cần biết về blockchain, công nghệ được kì vọng sẽ phá vỡ những gì thế giới đang nghĩ về hợp đồng, tài chính, giao nhận và nhiều ngành công nghiệp khác.
Blockchain là sổ cái điện tử
(Ảnh: Business Insider, Việt hoá: Thái Sơn)
Hiểu một cách đơn giản, blockchain là một sổ cái điện tử. Mỗi đơn vị của sổ cái này là một “khối” và những khối này được liên kết với nhau theo thứ tự ngay khi chúng được tạo ra thông qua hình thức mã hoá và không thể chỉnh sửa.
Bên trong mỗi khối là lịch sủ toàn vẹn của tất cả những gì đã xảy ra trên chuỗi cùng như các quy định, quy tắc mà các khối thông tin phải tuân theo.
Nghĩ đến blockchain như một danh sách chơi nhạc
(Ảnh: Fortune)
Hãy tưởng tượng rằng người dùng đang tạo ra một danh sách phát nhạc trên Spotify. Mỗi lần thêm vào một bài nhạc, người dùng tạo ra một phiên bản mới của danh sách phát nhạc đó, hoặc một “khối” mới trên chuỗi. Khối mới chứa thông tin về bài nhạc mới được thêm vào và toàn bộ các bài nhạc trước đó.
Nếu ai đó muốn thêm một bài nhạc vào danh sách phát nhạc nói trên, người này sẽ tạo ra một khối mới trong chuỗi. Nếu khối đó được chấp thuận bởi tất cả người tham gia, nó sẽ được thêm vào chuỗi và trở thành một phiên bản mới của danh sách phát nhạc.
Còn trong trường hợp có một người muốn xoá một bài nhạc ra khỏi danh sách, phiên bản tiếp theo của danh sách chơi nhạc sẽ kèm theo một ghi chú rằng bài nhạc đã từng có trong danh sách nhưng đã bị xoá.
Blockchain hữu ích nhất khi cần một hệ thống lưu trữ có độ tin cậy cao
(Ảnh: NYU)
Công nghệ blockchain phát huy được tối đa tác dụng trong hai trường hợp: lưu trữ sự kiện thông tin và đảm bảo rằng những thông tin này sẽ không bao giờ bị xoá.
Đặc tính nói trên khiến blockchain rất hữu ích trong tình huống hai bên muốn thực hiện một thoả thuận nhưng chưa tin tưởng nhau.
Blockchain có thể thay thế các định chế tài chính, ngân hàng hay công ty luật
Các ngân hàng và văn phòng luật được phát triển để xử lý các giao dịch liên quan đến tiền và tài sản. Thế nhưng, rất nhiều trong số các giao dịch này có thể được thực hiện thông qua các ứng dụng của blockchain như hợp đồng thông minh chẳng hạn.
Một hợp đồng thông minh sử dụng các quy tắc hiểu đơn giản là một điều chỉ có thể xảy ra khi một điều khác được thực hiện.
Ví dụ, Bên A cho thuê một căn hộ, hợp đồng thông minh yêu cầu Bên B chuyển 1.000 USD cho bên A để đổi lấy mã mở cửa. Blockchain loại bỏ rủi ro có một đơn vị trung gian lừa đảo.
Bitcoin, cấu trúc blockchain đầu tiên, được tạo ra vào năm 2009.
Một người đàn ông Nhật có tên Dorian Prentice Satoshi Nakamoto từng bị nhầm là “cha đẻ” của bitcoin vào năm 2014. (Ảnh: Reuters)
Bitcoin chính là hệ thống blockchain đầu tiên được tạo ra. bitcoin ra đời năm 2009 cùng một bộ quy tắc được liệt kê trong sách trắng viết bởi một nhân vật bí ẩn có tên Satoshi Nakamoto mà đến nay danh tính vẫn chưa được xác định.
Ý tưởng ban đầu của đồng tiền số này là tạo ra một dạng điện tử của tiền mặt có thể chuyển ngang hàng mà không cần thông qua ngân hàng – mục tiêu này được thai nghén từ cuộc khủng hoảng ngân hàng 2007 – 2008.
Hệ thống blockchain “phân tán,” vì thế không một đơn vị đơn lẻ nào có quyền kiểm soát.
(Ảnh: Business Insider, Việt hoá: Thái Sơn)
Hacker không thể chiếm một chiếc máy tính đơn lẻ để tấn công được blockchain bởi thực tế hệ thống này không có máy chủ trung tâm. Trong khi đó, trong mô hình của ngân hàng, luôn cóm ột cơ sở dữ liệu trung tâm chứa thông tin hoặc một quỹ trung tâm để chứa tiền.
Nó cũng bảo vệ người dùng khỏi việc phải phụ thuộc quá nhiều vào các định chế tài chính như ngân hàng.
Tất cả thay đổi trên blockchain đều cần được phê duyệt bởi cả mạng lưới.
(Ảnh: Business Insider, Việt hoá: Thái Sơn)
Một trong những lý do các khối trong chuỗi rất khó chỉnh sửa là việc blockchain tồn tại trên một mạng lưới phân tán các máy tính có nhiệm vụ xác nhận bất kì thay đổi nào diễn ra trên hệ thống.
Quá trình này gọi là “sự đồng thuận” (consensus) và được xem là điểm mấu chốt trong sự bảo mật của blockchain.
Điểm trừ của blockchain là nó còn khá chậm
Mỗi ứng dụng được xây trên quy trình blockchain đều phải xử lý toàn bộ lịch sử của blockchain mỗi khi một thay đổi được thực hiện. Điều này đồng nghĩa với việc giao dịch trên blockchain khá chậm chạp khi so sánh với tốc độ máy tính thông thường.
Ví dụ, ở trường hợp của bitcoin, đồng tiền này chỉ có thể xử lý được 7 giao dịch mỗi giây trong khi đó Etherium có thể xử lý được khoản 13. Đối với Visa, ở thời điểm năm 2014, công ty này đã có thể xử lý được 56.000 giao dịch mỗi giây.
Khi một điều gì đó cần được chỉnh sửa, quá trình này yêu cầu một “fork”.
(Ảnh: Business Insider, Việt hoá: Thái Sơn)
“Fork” là thuật ngữ được sử dụng khi một chuỗi được tách ra làm hai. Fork được dùng trong blockchain khi có một thay đổi về quy tắc hoặc có một khối thông tin cần được gỡ bỏ.
Dù vậy, với đặc tính là một hệ thống phân tán, mỗi thay đổi đều cần được từng máy tính xác nhận, vì thế, “Fork” không dễ đạt được.
Hai trong số những blockchain phổ biến nhất ở thời điểm hiện tại là Ethereum và Hyperledger Fabric
Bất kì ai nắm được các kĩ thuật cũng có thể tạo ra blockchian, thế nhưng nhiều công ty lại chọn cách phát triển dựa trên các nền tảng blockchain có sẵn bởi công nghệ của chúng đã được thử nghiệm và chứng minh qua thời gian. Hai trong số các nền tảng phổ biến nhất đang được nhiều công ty lớn sử dụng là Ethereum và Hyperledger Fabric.
IBM đang sử dụng blockchain để theo dõi thực phẩm trên toàn thế giới với mục đích cải thiện độ an toàn.
(Ảnh: Getty Images)
IBM có một số dự án blockchain đang được triển khai, bao gồm hệ thống theo dõi thực phẩm từ các trang trại tới tận cửa hàng. Công ty này cũng hợp tác cùng startup công nghệ tài chính Stellar.org và KlickEx Group vào năm 2017 để áp dụng blockchain trong việc sử dụng các giao dịch tài chính xuyên biên giới và chuyển tiền.
Oracle cũng giới thiệu một sản phẩm blockchian vào năm 2018 mang đến cho người dùng các công cụ để xây dựng hợp đồng thông minh, giao dịch thông minh hay theo dõi. Đây là một trong những dự án blockchain lớn nhất ở thời điểm hiện tại với khả năng giúp các công ty hưởng lợi từ blockchain mà không phải trực tiếp xử lý các vấn đề kĩ thuật phức tạp.
Sự ra đời của blockchain và Bitcoin đã gây ra một sự gián đoạn lớn tới ngành công nghệ và tài chính. Mang lại một loạt các ứng dụng thực tiễn và lợi ích lớn lao cho nhân loại như tiết kiệm được 30% chi phí trung gian, tăng hiệu suất ngân hàng lên tới 8 – 12% và tạo tiền đề cho các Blockchain và Ứng Dụng Phân Quyền mới ra đời như Ethereum, Omni, SAFE Network…
DApp – Ứng Dụng Phân Quyền Là Gì?
Theo David Johnston và các cộng sự thuộc quỹ Dapps thì để một ứng dụng được cho là một Ứng dụng phân quyền Dapp, nó phải đạt được những điều kiện tối thiểu sau:
Ứng dụng phải hoàn toàn mã nguồn mở, được điều hành tự động, và không có tổ chức nào kiểm soát được phần lớn token của nó. Ứng dụng có thể điều chỉnh giao thức của nó để đáp ứng các cải tiến được đề xuất và phản hồi của thị trường nhưng tất cả các thay đổi phải được quyết định bởi sự đồng thuận của người dùng.
Dữ liệu và hồ sơ hoạt động của ứng dụng phải được lưu trữ mã hóa trong một blockchain công cộng, phi tập trung để tránh việc tập trung hóa, dễ thành điểm yếu.
Ứng dụng cần phải có một token mã hóa (Bitcoin hay một token nội bộ cho hệ thống của chính nó). Token này cần thiết cho việc truy cập vào ứng dụng và bất kỳ đóng góp giá trị nào cũng nên được thưởng bằng token của ứng dụng.
Ứng dụng phải tạo token theo thuật toán mật mã chuẩn đóng vai trò là bằng chứng về các nút giá trị đang đóng góp cho ứng dụng (Bitcoin sử dụng thuật toán Proof of Work).
Satoshi Nakamoto, cha đẻ của Bitcoin đã mô tả sáng chế của mình là “Hệ thống tiền điện tử ngang hàng”. Bitcoin đã chứng tỏ rằng nó có thể giải quyết hiệu quả vấn đề phát sinh từ hệ thống tiền mặt điện tử không tin cậy và có thể mở rộng bằng cách sử dụng sổ kế toán ngang hàng, phân phối, Bitcoin blockchain. Bên cạnh việc trở thành một hệ thống tiền điện tử ngang hàng, Bitcoin cũng là một ứng dụng mà người dùng có thể tương tác với nhau thông qua phần mềm máy tính. Như vậy, dựa theo các tiêu chí trên thì Bitcoin cũng sẽ được đánh giá như một Dapps.
Phân Loại Các Ứng Dụng Phân Quyền
Có một số đặc điểm theo đó các ứng dụng phân cấp có thể được phân loại. Bài viết này sẽ phân loại Dapps dựa trên đặc tính là có sở hữu blockchain riêng hay xây dựng dựa trên blockchain khác. Với cách phân loại này thì có 3 loại DApps:
Loại 1: Ứng dụng phân quyền có sở hữu blockchain riêng. Bitcoin là ví dụ nổi tiếng nhất cho loại 1 hay Ethereum và một số altcoin khác cũng là ví dụ tiêu biểu.
Loại 2: Ứng dụng phân quyền sử dụng blockchain của ứng dụng phân quyền loại 1. Ứng dụng phân quyền loại 2 là giao thức và có token cần thiết để thực hiện các chức năng của nó. Giao thức Omni là một ví dụ tiêu biểu.
Loại 3: ứng dụng phân quyền sử dụng giao thức của ứng dụng phân quyền loại 2. Loại 3 là giao thức và có token riêng cần thiết để thực hiện các chức năng của nó. Ví dụ: SAFE Network sử dụng giao thức Omni để phát hành MaidSafeCoin có thể được sử dụng để đạt được kho lưu trữ tập tin phân phối.
Để dễ hiểu hơn, chúng ta có thể làm phép so sánh giữa các DApps và các ứng dụng máy tính thông thường. DApps loại 1cũng tương tự như hệ điều hành máy vi tính chúng ta sử dụng hàng ngày. Trong khi đó DApps loại 2 là các phần mềm hỗ trợ cho công việc hàng ngày (MS Office, Photoshop v.v). Và DApps loại 3 là các phần mềm chuyên biệt hóa hay Plugin để hỗ trợ cho các ứng dụng công việc (Ví dụ: các Plugin với các tính năng đặc biệt như biên dịch ngôn ngữ, chuyển đổi tập tin hỗ trợ cho Ms Office)
Giá Trị của Ứng Dụng Phân Quyền DApps
Blockchain đã mang lại những lợi ích không thể chối cãi cho công nghệ và tài chính tương lai. DApps với vai trò điều hành blockchain và ứng dụng triệt để blockchain giúp phát triển nhiều ngành công nghiệp trong tương lai. Hàng loại các dự án trẻ ra đời, nhằm giải quyết nhiều giới hạn trong từng ngành. Dù có thành công hay không thì đó cũng là bằng chứng cho thấy sự phát triển không ngừng các ứng dụng phân quyền khác nhau.
DApps hay Ứng dụng phân quyền sử dụng mạng ngang hàng giúp trao lại chủ quyền cho những dữ liệu chúng ta sở hữu. Không một bên thứ ba nào có thể theo dõi, chỉnh sửa hay ngăn chặn chúng.
Việc cắt giảm được bên trung gian, mang lại những lợi ích lớn lao về mặt tài chính cho người dùng cũng như những tổ chức lớn. Mang lại cơ hội kiếm thêm thu nhập cho các freelancer có năng lực, giảm đi những mức phí hoa hồng đắt đỏ cũng như những lừa đảo qua mạng cho cả đôi bên đối tác.
Cuối cùng, đây cũng chỉ mới là bình minh của blockchain và ngành công nghiệp crypto nói chung. DApps sẽ ngày một phát triển nhờ tính chất mã nguồn mở và vì cộng đồng. Do đó, những giá trị DApps mang lại sẽ ngày một mở rộng, khó mà nói hết trong vài dòng.
Ý tưởng giao dịch (sau đây gọi tắt là Ý tưởng) là một tính năng giao dịch hấp dẫn mang tính xã hội, cho phép bạn chia sẻ ý kiến về tiền mã hóa, cổ phiếu hoặc xu hướng forex, nhận được đánh giá cao của cộng đồng và doanh thu trọn đời được chia sẻ qua chương trình liên kết của SimpleFX.
Từ ngày 1 đến 31 tháng Bảy, những trader của SimpleFX chia sẻ Ý tưởng giao dịch của mình có thể nhận phần thưởng 600 USD trả qua Bitcoin. Ý tưởng nhận được nhiều chia sẻ và đánh giá nhất sẽ chiến thắng giải thưởng.
Người tham gia có thể chia sẻ càng nhiều Ý tưởng của mình càng tốt. Tuy nhiên, nếu một người gửi nhiều câu trả lời, chỉ có nội dung nào nhận được số điểm cao nhất mới được tham gia trong vòng thi đấu.
Tất cả mọi người đều có thể tham gia cuộc thi, tuy nhiên sẽ có áp dụng điều khoản và điều kiện.
Ý tưởng Giao dịch là gì?
Bạn có thể tạo ra một Ý tưởng Giao dịch chỉ với một vài cú click. Chỉ cần chụp lại ảnh màn hình phân tích biểu đồ của bạn, thêm bình luận và chia sẻ lên ứng dụng hoặc thông qua kênh truyền thông mạng xã hội. Mỗi Ý tưởng sẽ có đường dẫn liên kết của người dùng sẽ ghi lại lượng đăng ký và giao dịch để thanh toán chia sẻ lợi nhuận trọn đời.
Với Ý tưởng Giao dịch, bạn có thể:
Truyền cảm hứng cho bạn bè
Giới thiệu những trader mới tham gia mạng lưới
Tương tác với những thành viên trong mạng lưới của mình
Giúp những người khác kiếm tiền cho họ và cho bạn
Trở thành một ngôi sao trong cộng đồng mạng giao dịch
Sáng tạo và Chia sẻ Ý tưởng Giao dịch chẳng tốn công sức gì. Đây là hướng dẫn thực hiện đơn giản.
Chương trình liên kết marketing độc đáo
SimpleFX có một trong những chương trình liên kết marketing tốt nhất với chia sẻ lợi nhuận trọn đời đến 25%. Đối tác của SimpleFX các thể dùng phần mềm để theo dõi liên kết Unilink.io.
Với Unilink.io bạn có thể theo dõi những liên kết của mình trên bản đồ, và mở rộng hệ thống với bộ thiết kế đa ngôn ngữ rất tuyệt vời cho các chiến dịch của bạn. Thống kê theo thời gian thực từng cú nhấp chuột, từng lượt xem, tỷ suất chuyển đổi và thu nhập doanh thu đa tầng giúp việc mở rộng và kích hoạt mạng lưới liên kết sẽ dễ dàng.
Ứng dụng giao dịch tốt nhất năm 2019
SimpleFX WebTrader giành chiến thắng trong cuộc thi cho ứng dụng giao dịch tốt nhất tại Finance World Expo Summit 2019 – Hội chợ Triển lãm Tài chính Thế giới diễn ra ở Thuỵ Sĩ. Các chuyên gia đã đánh giá SimpleFX WebTrader rất cao vì:
Tính khả dụng tuyệt vời trên các thiết bị di động
Tốc độ và độ tin cậy đáng kinh ngạc
Đáp ứng nhu cầu của người dùng với những tính năng mới
Cộng đồng người dùng mạnh mẽ và lớn mạnh.
Sự phát triển của SimpleFX đã gia tăng mạnh mẽ từ cuối năm 2018 mặc do xu thế giảm của thị trường tiền mã hoá, tất cả nhờ vào sự đón nhận tích cực cho phiên bản SimpleFX WebTrader 2.0 và liên kết với phần mềm chương trình liên kết Unilink.io.
Đây là bài viết quảng cáo, bạn đọc nên tìm hiểu kỹ thông tin trước khi hành động, không phải là lời khuyên mua bán của chúng tôi, chúng tôi không chịu trách nhiệm trước bất cứ thiệt hại nào bạn đọc gây ra do tin tưởng hay sử dụng nội dung trong bài.
Thiên công Yoga-còn gọi là Thiên Công Pháp-là một Bộ môn khí công-ngoại cảm siêu đẳng mới.
Thiên công Yoga là bộ môn khí công đặc sắc, kết hợp khoa học nhân thể mới và khoa học ngoại cảm, khoa học vật lý để tu luyện đến trình độ khai mở các công năng tiềm năng của con người, có thể phát triển đến trình độ công năng đặc biệt, như thấu thị, phát khí thiên công, thần công chữa bệnh từ xa, chẩn bệnh từ xa, tự chữa bệnh không dùng thuốc, cải tạo được phong thủy, phá và khắc chế các vấn đề tâm linh, huyền thuật, phong thủy tiêu cực. Cải tạo con người, ngoại vật đến tiến hóa cao hơn.
Là đỉnh cao của khoa học Khí công-Yoga trường sinh học và Huyền môn học, nên gọi là Huyền công Yoga.
Người tu luyện bộ môn khí công này, phải sửa tâm tính đến điềm đạm, không nóng giận, nếu không dễ gây nguy hiểm khi sử dụng công năng không đúng cách; giữ lòng lành thiện, làm việc thiện ích cho cộng đồng xã hội, hiểu và biết sống tha nhân vì người khác. Nếu có khả năng công lực ngoại cảm, thì phải cứu nhân cứu bệnh không vì tiền bạc đơn giản. Người học trước nhất là nâng cao sức khỏe bản thân, sống tự tại, an lạc, tránh sống vội sống gấp, không tranh đấu ác hại ở đời, tránh làm các việc vi phạm pháp luật. Không phân biệt tôn giáo, dân tộc, quốc gia, văn hóa, tín ngưỡng.
Nếu đã giỏi thì tích cực dạy cho người khác để cải tạo sức khỏe cộng đồng.
THIÊN CÔNG YOGA-CON ĐƯỜNG KHAI MỞ TIỀM NĂNG SỐNG CỦA BẢN NGUYÊN CƠ THỂ CON NGƯỜI
VÀ HÒA NHẬP VŨ TRỤ
Yoga-hay nói chính xác là các phương pháp làm cho con người hòa nhập một cách có ý thức vào thiên nhiên-môi trường và thể nguyện theo các đặc tính vũ trụ để nhanh chóng khai mở các nguồn năng lượng tiềm tàng của con người; phát huy được nội lực bản thể sống và hóa nhập tuyệt đối vào nguồn gốc của vũ trụ cũng như tự nhiên nói chung.
Yoga theo phương Đông thì là luyện khí công, theo các môn phái tâm linh, tôn giáo là luyện đạo-phép đạo dẫn, thuật trường sinh bất lão; luyện thần thông, luyện huyền môn, huyền thuật; theo cách bình thường gọi là luyện khí dưỡng sinh, môn y học bổ sung.
Lịch sử có vô số pháp môn, từ mật truyền đến công truyền, từ các đạo giáo tây phương, đông phương, như mật tu Kabbalah, Ấn giáo, Yoga Ấn độ và các trường phái tâm linh Ấn; rồi đạo Giáo Trung Hoa, các môn phái võ công đều khai luân xa đại huyệt, phóng chưởng cách không; rồi đến các phép tu của Mật Tông, Phật giáo Đại Thừa; đến mật tu Cao Đài, đến Nhân Điện…Có vô số các pháp huyền môn huyền thuật khác…
Nguyên lý Yoga hay là các môn phái khí công…đều tu luyện để làm sao con người hoà nhập vào đại khối tự nhiên và hợp với các đặc tính-lý tính của vũ trụ, trong một quan niệm thiên địa nhân hợp nhất, con người là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ.
Nguyên lý của Thiên Công Yoga cũng không nằm ngoài qui luật ấy, nhưng có tính chất nâng cao hơn trong quan niệm là không những hợp nhất với các đặc tính tự nhiên, nguyên lý âm dương, nguyên lý tính dục nam nữ, mà còn hợp nhất nguyên thần bản mệnh chân nhân của mình với trung tâm thần lực vũ trụ để đi đến sự hợp nhất tối cao cuối cùng. Đây là cách để lấy năng lượng cao nhất của vũ trụ để cải tạo và nâng cao rung động của các nguyên tử cấu tạo nên thân xác vật lý của chúng ta và làm lớn linh hồn, làm tiến hóa trí huệ của chúng ta trong một kiếp sống cực kỳ cao quý này; nên không thể uổng phí đời sống hiện tại, nếu không tu học những kiến thức cao cấp về tự nhiên và vũ trụ.
Thiên Công Yoga chủ trương khai mở 11 luân xa chính, mạch trục âm dương năng lượng chính và trục Hoả xà Kundalini; tăng cường nội lực tại đan điền là trung tâm tiên thiên khí của cơ thể. Sau đó khai mở các khả năng ngoại cảm và công năng đặc dị của con người; đồng nghĩa là khai mở các tiềm năng sống của con người. Sau đó đến trình độ cao cấp hơn, đối với các học viên được luyện rèn có tính cách tốt, hiền hậu, trung thực, giản dị, kín kẽ và sống hồn nhiên, sẽ được học phần Siêu Biệt-để có những hiểu biết vô giá, những trải nghiệm tiến hóa cao cấp, để tiến hóa thực sự về trí tuệ khi học hỏi và du nhập các kiến thức vĩ đại cao quý trong vũ trụ, trong các dòng không-thời gian và các mật độ thế giới khác chúng ta.
Bộ môn này không phải là cứu cánh tâm linh-tôn giáo, mà là bộ môn khí công Yoga thượng thặng mà Huyền sư trao tặng các bạn để các bạn học hỏi và tu luyện đến thành hiền tài, hiền nhân trong một thế giới đầy biến động này.
Linh hồn có tồn tại hay không? Đây là câu hỏi kinh điển của nhân loại từ lâu. Nó có thể là điều đương nhiên trong văn hóa các nước Á Đông, nhưng lại là chủ đề gây tranh cãi không ngừng nghỉ trong giới khoa học thực chứng hiện đại.
Tuy nhiên cho đến ngày nay, có rất nhiều bằng chứng trong giải phẫu học, nhân thể học, tâm lý học, … đã chỉ ra khả năng linh hồn thật sự tồn tại và những câu chuyện về linh hồn có thật và những luân cứ khoa học đang dần làm sáng tỏ bí ẩn về linh hồn chứ không phải là một khái niệm trong các tác phẩm nghệ thuật; phim ảnh hay văn chương.
Trong bài này, chúng ta sẽ điểm qua một số luận cứ khoa học ủng hộ sự tồn tại của linh hồn và hiện tượng luân hồi của linh hồn người chết.
1. Các trải nghiệm cận tử
Trải nghiệm cận tử (tiếng Anh: near-death experience) là một trải nghiệm được kể lại bởi một người suýt chết hoặc đã bị chết lâm sàng, rồi sau đó được cứu sống lại. Nguyên nhân tạo nên trải nghiệm này có thể là tai nạn xe hơi, bị sốc thuốc hoặc rượu, hay bị một chứng bệnh nghiêm trọng dẫn đến hôn mê, bất tỉnh.
Trong trải nghiệm này, cơ thể họ gần như đã chết, các chức năng nội tạng về cơ bản ngừng hoạt động. Nhưng tâm trí họ lại có thể nhìn thấy những điều phi thường. Có người nhìn thấy ánh sáng, có người nhìn thấy những người thân quá cố, có người du hành đến các thế giới khác, và cũng có những người nhìn thấy bản thân mình tách rời khỏi thân thể, trôi bồng bềnh trong không trung, có thể nhìn thấy cơ thể của chính mình. Nên nhớ rằng, những trải nghiệm này xảy ra khi cơ thể người đó gần như sắp chết, các chức năng nôi tạng (bao gồm bộ não) bị tê liệt.
Trải nghiệm cận tử. Ảnh: Speak the Truth in Love
Trải nghiệm này là trải nghiệm mang tính chất cá nhân, là trải nghiệm của riêng cá nhân đó. Điểm đáng kinh ngạc nằm ở chỗ, trong một số trường hợp, người trải nghiệm có thể báo cáo những chi tiết mà họ đáng nhẽ ra không thể biết được thông qua 5 giác quan thông thường.
Trường hợp của nữ ca sĩ Pam Reynolds
Cô đã phải thực hiện một ca phẫu thuật đặc biệt để điều trị một khu vực phình mạch máu não. Cô đã ở trong tình trạng ngừng tim, hạ thân nhiệt xuống mức rất thấp, nhịp tim và hơi thở ngừng lại, các sóng não dừng hẳn, và máu được rút ra khỏi não bộ. Theo y học, thì về cơ bản cô đã chết. Nhưng cô lại có thể hồi tưởng một cách rõ ràng điều đã xảy ra sau khi được tiêm thuốc tê và trong khi diễn ra quá trình phẫu thuật. Cô nói:
“Điều tiếp theo tôi có thể hồi tưởng lại là âm thanh: Đây là một nốt Rê tự nhiên. Khi tôi lắng nghe âm thanh đó, tôi cảm nhận như nó đang kéo tôi ra khỏi cơ thể từ đỉnh đầu. Càng thoát ra khỏi cơ thể bao nhiêu, âm thanh đó càng trở nên rõ ràng bấy nhiêu. Tôi có cảm tưởng rằng đây là một con đường, một tần số kéo dài mãi mãi. … Tôi nhớ đã nhìn thấy một vài thứ trong phòng mổ khi ngó xuống. Đây là giây phút tỉnh táo nhất tôi từng trải nghiệm trong đời”.
Một trong những thứ cô đã ghi nhận được trong trạng thái đó là lời nhận xét của một vị bác sĩ trong ê kíp phẫu thuật. Cô đã nghe thấy vị bác sĩ này nói rằng các động mạch của cô rất nhỏ.
Khi tỉnh dậy, cô đã chỉ đích danh vị bác sĩ này. Điều đáng kinh ngạc, vị bác sĩ này đã xác nhận thông qua báo cáo phẫu thuật rằng, bà quả thật đã thảo luận về kích thước động mạch có phần hơi nhỏ của cô, và mốc thời gian này trùng khớp với mốc thời gian trong trải nghiệm của Reynolds.
Làm sao Reynolds có thể biết được điều này, khi cơ thể cô lúc đó đang ở trong trạng thái gần như đã chết? Khi cơ quan thị giác để nhìn và thính giác để nghe ngừng hoạt động, cô vẫn có thể nghe và cảm nhận rất rõ ràng các sự việc xảy ra xung quanh. Thậm chí cô có thể nhìn thấy cơ thể của chính mình.
Điều này làm dấy lên một câu hỏi:
Vậy không rõ dưới dạng thức tồn tại nào của sự sống cô có thể làm được những điều này?
Nếu tham khảo các tư liệu tín ngưỡng, tâm linh và tôn giáo, chúng ta sẽ bắt gặp một khái niệm khá giống với trường hợp được miêu tả trên đây – linh hồn. Và trạng thái khi những người đó xuất ra để quan sát thế giới xung quanh được gọi là “thoát xác”, hay “linh hồn ly thể”.
Trạng thái khi những người đó xuất ra để quan sát thế giới xung quanh được gọi là “thoát xác”, hay “linh hồn ly thể”. Ảnh: IAC
Và đây không phải là trường hợp của một hay vài người, mà là của rất nhiều người trên khắp thế giới, không có giới hạn về khoảng cách địa lý, về tín ngưỡng, về văn hóa, về dân tộc,… Hãy xem kết quả một thống kê dưới đây ở Mỹ vào năm 1992:
– 774 trường hợp NDE được ghi nhận ở Mỹ mỗi ngày, theo kết quả điều tra năm 1992 của Viện thăm dò dư luận Gallup, được trích dẫn bởi Tổ chức Nghiên cứu Trải nghiệm Cận tử.
– 13 triệu người dân Mỹ, hay 5% dân số nước này, đã trải nghiệm hiện tượng NDE trong năm 1992, cũng theo kết quả điều tra trên.
Một số trường hợp trải nghiệm cận tử:
Trong trải nghiệm cận tử (chết hụt), cái “linh hồn” đó dường như đã rời cơ thể, rồi quay trở lại sau khi cơ thể được cứu sống. Các sự việc được linh hồn miêu tả (nghe thấy, nhìn thấy) trong quá trình này ăn khớp với những gì thực sự diễn ra. Đây là một bằng chứng khả tín về sự tồn tại của linh hồn. Tuy nhiên, đây không phải là bằng chứng duy nhất.
Giả sử nói rằng, khi một người tử vong chết, cũng chính là nói, khi linh hồn rời cơ thể nhưng không quay trở lại nữa, thì linh hồn đó sẽ đi đâu?. Chúng ta sẽ thảo luận về vấn đề này trong mục tiếp theo, cũng chính là một bằng chứng khả tín khác về sự tồn tại của linh hồn.
2. Luân hồi tái sinh
Luân hồi tái sinh, hay đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác, là một khái niệm khá phổ biến trong tín ngưỡng Á Đông, của những người theo tín ngưỡng Phật giáo. Theo thuyết này, khi chết đi, thân xác thịt bề mặt sẽ phân hủy, nhưng linh hồn vẫn tồn tại. Linh hồn sẽ rời cơ thể, và tiến nhập vào cuộc sống tiếp theo, hay theo cách nói của tôn giáo, đầu thai vào kiếp sống kế tiếp, trong một cơ thể mới. Đây là những gì được giảng trong tôn giáo. Nếu chứng minh được sự tồn tại của luân hồi, chúng ta sẽ gián tiếp chứng minh được sự tồn tại của linh hồn.
Nhà khoa học giải thích về sự tồn tại của linh hồn như thế nào?
Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, những điều trên sẽ được kiểm chứng chặt chẽ trước khi phản đối hay thừa nhận.
Để kiểm nghiệm một khái niệm phương Đông thuần túy như luân hồi, để tránh các thiên kiến gắn liền với văn hóa phương Đông, cần áp dụng một bộ các tiêu chuẩn chặt chẽ của khoa học thực chứng phương Tây, thì mới có thể đưa ra một kết luận chắc chắn về vấn đề này. Sẽ không có gì phù hợp hơn nếu có một học giả phương Tây, được đào tạo bài bản và chuyên sâu trong khoa học hiện đại, đứng ra để kiểm định khái niệm. Và TS Ian Stevenson chính là một trong số những người như thế.
Tiến sĩ Ian Stevenson (1918 – 2007), một chuyên gia nghiên cứu về luân hồi. Ảnh: ezoyog.ru
Tiến sỹ Ian Stevenson là một giáo sư, bác sĩ tâm thần học tại Trường Y Đại học Virigina (Mỹ) với thâm niên 50 năm trong nghề. Ông là nhà sáng lập và giám đốc Khoa Nghiên cứu Nhận thức của ĐH Virginia, chuyên nghiên cứu các hiện tượng cận tâm lý (hiện tượng siêu thường) ví như (1) luân hồi, (2) trải nghiệm cận tử, (3) trải nghiệm ngoài cơ thể (tương tự trải nghiệm cận tử – nhưng có thể xảy ra theo ý muốn, không cần một biến cố cận tử) v.v…. Ông được công nhận rộng rãi trong cộng đồng học giả quốc tế với công trình nghiên cứu của ông về khả năng đầu thai luân hồi thông qua việc tìm kiếm và thu thập các bằng chứng cho thấy các ký ức và thương tích thể chất có thể được mang theo từ đời này sang đời khác. Ông đã đi rất nhiều nơi trong khoảng thời gian 40 năm, điều tra 3.000 trường hợp những đứa trẻ trên khắp thế giới tuyên bố có thể nhớ lại các kiếp sống trước đây. Công trình nghiên cứu đồ sộ của ông cung cấp các bằng chứng cho thấy những khả năng đặc biệt, các dị tật, các nỗi ám ảnh và sở thích bất thường, mà không thể được lý giải bởi yếu tố môi trường xung quanh hay di truyền từ cha mẹ, rất có khả năng là những gì được lưu lại từ kiếp sống trước, được mang theo cùng linh hồn sang kiếp sống tiếp theo trong một cơ thể khác. Ở đây chúng ta sẽ thảo luận 3 yếu tố nổi bật:
a) Các ký ức được xác thực về kiếp sống trước
Một số đứa trẻ, từ khi còn rất nhỏ, đã có thể nhớ lại và kể rành rọt những ký ức được cho là từ kiếp sống trước. Những ký ức này vô cùng chi tiết và cụ thể, mà sau này khi được đối chiếu với thông tin về người được cho là kiếp sống trước của những đứa trẻ đó, đã cho thấy một sự tương đồng đáng kinh ngạc. Trong 3 trường hợp được TS Stevenson xem xét chi tiết, ông cho biết mỗi đứa trẻ đã đưa ra khoảng 30-40 tuyên bố về các ký ức liên quan đến kiếp sống trước. Kết quả cho thấy, 82-92% trong số các tuyên bố đó đó là có thể xác thực được và vô cùng chính xác. Tại thời điểm đưa ra những tuyên bố trên, những đứa trẻ này còn rất nhỏ, nên không cách nào tự mình thu thập các thông tin này.
Một trường hợp nghiên cứu điển hình là về một bé gái người Ấn Độ tên là Shanti Devi. Trường hợp này vô cùng nổi tiếng tại Ấn Độ, thậm chí lan ra thế giới. Một Ủy ban nghiên cứu gồm 15 chuyên gia đã được thành lập để tiến hành điều tra, trong đó bao gồm cả Nghị sĩ Quốc hội, một số lãnh đạo quốc gia và giới truyền thông. Rất nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới, bao gồm GS Stevenson đã đến kiểm chứng vụ việc.
Shanti Devi, một trường hợp luân hồi khả tín, đáng kinh ngạc ở Ấn Độ. Ảnh: bayvoice.net
Shanti Devi là một bé gái sinh vào năm 1926 ở Chirawala Mohulla, một vùng đất nhỏ ở bang Delhi, Ấn Độ. Khi lên 4 tuổi, cô bé mới bắt đầu biết nói, nhưng những gì cô bé kể ra khiến cả gia đình cô chấn động. Cô thường xuyên kể về một kiếp sống trước đây, khi đó cô đã lấy chồng và có với nhau một đứa con. Cô có thể miêu tả rõ nét hình dáng bên ngoài của chồng, rằng nhà chồng làm tiệm vải, đối diện một cái miếu, cũng rất nhiều chi tiết vụn vặt khác. Trong kiếp sống đó, cô đã sảy thai một lần. Lần thứ hai thì cô giữ được thai và sinh hạ thành công đứa trẻ, nhưng sau 9 ngày thì qua đời do tình trạng sức khỏe giảm sút.
Cô liên tục kể về kiếp sống trước và đòi cha mẹ dẫn về “ngôi nhà xưa”, nhưng phải đến 9 tuổi, mong muốn của cô mới được toại nguyện. Với sự giúp đỡ của thầy giáo dạy trung học, cô đã liên lạc được với gia đình nhà chồng trước kia. Lúc đầu khi mới gặp mặt, người chồng và con cô trong kiếp sống trước cũng chỉ nửa tin nửa ngờ, nhưng sau khi cô kể lại chi tiết những ký ức từ hồi xưa, ví như món ăn chồng thích, vị trí cái giếng ở sau sân nhà, …tất cả mọi người đều không thể không thừa nhận, rằng cô chính là người vợ trong kiếp trước.
Không chỉ vậy, cô còn có thể tận tay chỉ đường đến ngôi nhà xưa, những biển báo giao thông quan trọng, những người họ hàng thân quen, thậm chí cả nơi cất tiền bí mật của cô trong nhà. Cô có thể nhớ lại tiền kiếp không chút sai lệch.
Những trường hợp này chắc chắn không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi một lý do cốt lõi: những đứa trẻ này có thể xác định chính xác những người thân quen và mối quan hệ trong kiếp sống trước đây của họ. Ấn tượng nhất hẳn là một cô bé người Lebanon, người đã có thể nhớ và nhận diện chính xác 25 người khác nhau trong cuộc đời trước đây của cô ấy và mối quan hệ liên quan giữa cô và họ. Những trường hợp luân hồi thuyết phục nhất của ông được tập hợp trong một cuốn sách mang tên “20 trường hợp cho thấy sự tồn tại của hiện tượng luân hồi (Twenty Cases Suggestive of Reincarnation)”.
b) Vết bớt/dị tật bẩm sinh
Trong số các trường hợp luân hồi đã được xác thực, kết quả từ phần mềm nhận dạng khuôn mặt cho thấy, trên thực tế có một sự tương đồng về hình dáng khuôn mặt với hình dáng trong kiếp trước. Một số có vết bớt bẩm sinh ở những vị trí mà họ tuyên bố từng bị các vết thương chí mạng trong kiếp trước. Đây thường là những vết thương nổi bật và đôi lúc có phần kỳ dị, chẳng hạn như các con số mờ nhạt không rõ nét hoặc tình trạng thiếu hụt tứ chi (ngón tay, ngón chân,…) ở một bộ phận nào đó, phần đầu biến dạng, và các vết đốm kỳ lạ.
TS Ian Stevenson đã nghiên cứu 210 trường hợp trẻ em luân hồi với các vết bớt hay dị tật bẩm sinh có liên hệ đến vết thương trong kiếp trước. Trong số 210 trường hợp này, TS Ian Stevenson đã thu thập được báo cáo khám nghiệm tử thi trong 49 trường hợp. Ông phát hiện trong hơn 43% các trường hợp, vết thương trên cơ thể người chết từ báo cáo khám nghiệm tử thi (cơ thể cũ trong kiếp sống trước) nằm rất gần với vết bớt hay dị tật bẩm sinh tại vị trí tương ứng trên cơ thể đứa trẻ (cơ thể mới trong kiếp sống hiện tại). Đây là một tỷ lệ rất cao.
Một số trường hợp điển hình:
Một cậu bé Thổ Nhĩ Kỳ có tai phải bị biến dạng. Cậu nhớ trong kiếp trước mình đã bị sát hại bằng một phát súng vào phía đầu bên phải ở cự ly gần.
Cậu bé Thổ Nhĩ Kỳ có tai phải bị thu nhỏ và biến dạng. Ảnh: Epoch Times
Một cô bé người Myanmar bị thiếu mất phần dưới chân phải (thiếu xương mác dưới) bẩm sinh nhớ lại kiếp sống trước là một cô bé bị đoàn tàu chạy cán lên người. Các nhân chứng trong vụ việc này nói con tàu đã cán qua chân phải của cô bé, trước khi đè lên khúc cây. Dị tật bẩm sinh của cô bé trong kiếp này, chứng thiếu xương mác, là một chứng bệnh cực hiếm gặp. (Ảnh dưới)
Cô bé người Myanmar mắc chứng thiếu xương mác bẩm sinh. Ảnh: Epoch Times
c) Nỗi sợ hãi kỳ lạ có nguyên nhân từ chấn thương tiền kiếp
Tiến sỹ Jim Tucker là người nối nghiệp của TS Stevenson. Ông hiện cũng đang công tác tại ĐH Virginia và là một nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới về hiện tượng luân hồi.
TS Jim Tucker. Ảnh: Jim Tucker
Một đặc điểm khá thú vị trong các trường hợp luân hồi được Tiến sĩ Stevenson là những ám ảnh, những nỗi lo sợ được hình thành từ những chấn thương trong tiền kiếp. TS Jim Tucker cho hay,
“Một lĩnh vực khác mà người thầy Ian [Stevenson] của tôi quan tâm là hành vi của những đứa trẻ này. Ông đã viết một bài báo về nỗi ám ảnh mà rất nhiều đứa trẻ biểu lộ, thường thường có liên quan đến trạng thái lúc tử vong trong kiếp sống trước mà chúng nhớ được (Stevenson, 1990a). Nỗi sợ này xuất hiện [một cách khó hiểu] từ khi chúng còn rất nhỏ, thậm chí ngay cả trước khi chúng nhớ lại được kiếp sống đó. Lấy ví dụ, ông đã mô tả trường hợp của một cô gái đến từ Sri Lanka. Lúc còn sơ sinh, cô đã một mực chống đối việc tắm bồn, đến nỗi phải cần đến ba người lớn giữ chặt tay chân cô bé để tắm cho cô. Khi lên 6, cô bắt đầu cho thấy thêm một nỗi ám ảnh rất lớn với xe buýt. Sau này, cô đã mô tả kiếp trước của mình là một cô gái ở một làng khác. Hôm đó, khi cô đang đi dạo dọc theo một con đường hẹp giữa hai cánh cánh đồng lúa ngập nước, thì một chiếc xe buýt lao tới. Cô lùi lại để tránh chiếc xe buýt, thì bị hụt chân và ngã xuống vũng nước ngập, và bị chết đuối”.
Ảnh: scientificamerican.com
Trên thực tế, luân hồi dường như là một hiện tượng được báo cáo trên khắp thế giới, cả ở phương Đông lẫn phương Tây. bất kể nền văn hóa bản địa có khái niệm này hay không. Ở các nước phương Tây, với hai tín ngưỡng lớn, chính yếu là Cơ đốc giáo và Hồi giáo, luân hồi là một khái niệm xa lạ. Theo tín ngưỡng của họ, một người sau khi chết sẽ lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục, tùy theo những việc đã làm trong cuộc sống.
Trong tín ngưỡng Cơ đốc giáo và Hồi giáo, một người sau khi chết sẽ lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục, tùy theo những việc đã làm trong cuộc sống. Ảnh: quoracdn
Dù vậy, các trường hợp luân hồi được báo cáo ở phương Tây vẫn rất nhiều, cho thấy luân hồi dường như không phải đơn thuần là một quan niệm, niềm tin của tín ngưỡng Á Đông, mà là một hiện tượng có thật xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới.
3. Chụp ảnh linh hồn
Konstantin Korotkov, một giáo sư vật lý người Nga, phó giám đốc Viện nghiên cứu rèn luyện thể chất St-Petersburg, tuyên bố đã chụp được ảnh linh hồn.
Giáo sư vật lý Korotkov. Ảnh: tunuevainformacion
Ông làm được điều này thông qua một phương pháp chụp ảnh đặc biệt do chính ông phát minh ra gọi là kỹ thuật “hiển thị phóng điện khí (Gas Discharge Visualization)” hay GDV, thuộc lĩnh vực nhiếp ảnh Kirlian.
Nhiếp ảnh Kirlian được lấy theo tên của một người thợ điện người Nga tên Semyon Kirlian, người đã khám phá ra phương pháp chụp ảnh này vào năm 1939. Nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu của Liên Xô và các nước phương Tây (Anh, Mỹ) vào thập niên 70 của thế kỷ trước. Phương pháp này có khả năng chụp ảnh trường năng lượng, hay “hào quang (aura)” của bất kỳ vật thể nào.
Ảnh chụp hào quang (trường năng lượng) của đồng xu theo phương pháp Kirlian. Ảnh: PinterestẢnh chụp hào quang (trường năng lượng) của ba chiếc lá. Ảnh: Đại học bang San FranciscoẢnh chụp hào quang (trường năng lượng) của quả táo. Ảnh: pinimg
Và theo GS Korotkov, các quan sát trước đó cho thấy hình ảnh phát sáng quang điện quang (hào quang) xung quanh đầu ngón tay của một người có thể phản ánh một cách rõ ràng và đầy đủ về tình trạng sức khỏe – bao gồm sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất – của người đó.
Hào quang xung quanh 5 đầu ngón tay của một người phản ánh trọn vẹn tình trạng sức khỏe tâm sinh lý của người đó. Ảnh: blogspot
Nói cách khác, kỹ thuật GDV (thuộc nhiếp ảnh Kirlian), được phát triển vào cuối thập niên 90, có thể được ứng dụng để chẩn đoán và đánh giá bệnh tật ở người. Nó hiện đang được sử dụng để đo lường mức độ stress và sự tiến triển của các phương pháp điều trị y học.
GS Korotkov cùng các đồng nghiệp đã tiến hành chụp ảnh GDV trên 4 đầu ngón tay (trỏ, giữa, áp út, út) của những người sắp chết.
Sau khi một người chết đi, cơ thể sẽ bắt đầu quá trình phân hủy. Thông qua kỹ thuật GDV ông phát hiện 4 đầu ngón tay của những người chết sẽ trải qua quá trình suy giảm độ sáng huỳnh quang (chính là sự suy giảm độ sáng hào quang trong các hình trên – sự biến mất dần dần của độ sáng hào quang khi một người chết). Để đơn giản hóa, chúng ta mặc định các hoạt động biến đổi thể chất là giống nhau và tương đồng trên toàn bộ cơ thể. Nói cách khác, trong thí nghiệm này, tuy rằng nhóm nghiên cứu của GS Korotkov chỉ chụp ảnh GDV trên 4 đầu ngón tay, nhưng kết quả ghi nhận được là biểu hiện chung cho toàn bộ cơ thể. Do đó, từ nay trở đi, thay vì nói “hào quang của 4 đầu ngón tay”, chúng ta sẽ nói “hào quang của toàn bộ cơ thể”.
Trở lại chủ đề chính, thông qua kỹ thuật GDV, nhóm nghiên cứu của GS Korotkov nhận thấy sự suy giảm độ sáng hào quang có biên độ dao động không đồng đều trên các cơ thể người chết khác nhau, lúc cao lúc thấp, và như vậy thì có sự khác biệt rất lớn so với quá trình phân hủy thông thường. Theo logic thông thường, khi con người mất ý thức và cơ thể chết đi, thì cái cơ thể xác thịt này không có gì khác so với một tảng thịt, do đó sẽ có quá trình phân hủy giống với một tảng thịt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của GS. Korotkov về chất lượng các sản phẩm thịt tiêu dùng vào năm 1984-85 lại cho thấy, trong quá trình phân hủy thông thường, các loại thịt khác nhau (bò, gà,…) đều có một sự suy giảm độ sáng hào quang đơn điệu và đồng nhất (các loại thịt khác nhau có độ suy giảm ánh sáng giống nhau) dưới mức nhiệt độ phòng, và không có bất kỳ sự dao động bất thường, bùng nổ nào được ghi nhận, do đó rất khác với quá trình phân hủy của cơ thể người. Ông cho rằng sự khác biệt này là do trong cơ thể người có tồn tại bổ sung một dạng “cấu trúc thông tin-năng lượng” đặc thù. Theo ông, cái “cấu trúc thông tin-năng lượng” này là một dạng cấu trúc không gian khách quan, có sự liên kết với cơ thể vật chất, nhưng tồn tại độc lập với nó, đặc biệt trong một đoạn thời gian nhất định sau khi một người tử vong. Ông nhận định, đây rất có thể là một dạng thức biểu hiện của “linh hồn”.
Tồn tại một loại “cấu trúc thông tin-năng lượng”, có sự liên kết với cơ thể vật chất, nhưng tồn tại độc lập với nó. GS Korotkov cho rằng nó chính là “linh hồn”. Ảnh: Science Photo Library
Nhóm nghiên cứu của Korotkov cho biết sự suy giảm ánh sáng hào quang của những người chết phi tự nhiên do các tác nhân không thuận lợi (VD: tự tử, bị sát hại, chăm sóc y tế sai sót, bị tắc nghẽn mạch máu não,…) là khác với những người trải qua một cái chết bình lặng (chết do tuổi già). Ở những người chết phi tự nhiên so với những người chết bình lặng, sự suy giảm ánh sáng hào quang có biên độ dao động lớn hơn đáng kể, và kéo dài trong khoảng thời gian dài. Đặc biệt, ở những người này, GS Korotkov còn ghi nhận được một sự gia tăng độ sáng hào quang đột ngột trở lại vào ban đêm, bắt đầu từ 9 giờ tối. Có người cho rằng, đây là biểu hiện của việc linh hồn quay trở lại cơ thể, chứ chưa rời đi ngay sau khi cơ thể chết.
Linh hồn sẽ trở lại cơ thể trong các trường hợp tử vong phi tự nhiên.